Chương 1 Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam 1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian 1. Khái niệm văn hóa Tiến trình lịch sử của nhân loại cho thấy, ngay từ thuở sơ khai, văn hóa đã là nền tảng, là động lực của quá trình phát triển của toàn thể cộng đồng nói chung và từng cá thể thành viên của cộng đồng nói riêng. Văn hóa đã trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm chung của toàn thể cộng đồng nhân loại chứ không còn là vấn đề riêng của giới nghiên cứu học thuật nữa.
Trong tiếng Việt, văn hóa là danh từ có nội hàm khá rộng và phức tạp. Người ta có thể hiểu văn hóa như là một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như trình độ học vấn mà mỗi công nhân viên chức vẫn ghi trong lý lịch công chức của mình. Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào những không gian, thời gian khác nhau và những tác giả khác nhau. Điều đó chứng tỏ tính đa dạng phong phú và tính luôn luôn biến đổi của văn hóa.
Bản thân thực thể văn hóa đã trở thành đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu, văn hóa không còn giới hạn trong khuôn khổ của một khoa học mà là sự đa chiều của nhiều khoa học. Điều này đã dẫn đến việc có quá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa được đề cập đến ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Quả thật, văn hóa là một khái niệm có nội dung rất phong phú và đa dạng, qua đó cho thấy việc xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi các tác giả khác nhau thường hiểu nội dung của nó khác nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và tùy thuộc vào việc xuất phát từ cứ liệu riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu. Trong quyển “Nhân chủng học Văn hóa”, giáo sư Richley H.Crapo cho rằng, hai nhà khoa học Mỹ A.Krober và Kluckhôn đã khảo sát 158 định nghĩa về văn hóa.
Năm 1967, Abraham Moles, nhà Văn hóa học Pháp cho rằng, có 250 định nghĩa về văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa Trung Hoa Từ Hồng Hưng cho rằng, có đến “hàng nghìn định nghĩa về văn hóa” [31;10]. Theo tác giả Đoàn Văn Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Chúc trong sách “Xã hội học văn hóa” thống kê cho đến nay có tới 256 định nghĩa khác nhau về văn hóa [13;21]. Năm 1994, trong công trình Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Phó Giáo Sư Phan Ngọc cho biết: “Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau” [22;19].
Ngược dòng thời gian, ở phương Tây, từ văn hóa xuất hiện sớm trong đời sống ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: Văn hóa là một từ có căn gốc Latinh: Colere, sau trở thành Cultura nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Từ nét nghĩ này về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí tuệ. Thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, nhà hùng biện thời La Mã Cicéron có câu nói nổi tiếng: “Triết học là văn hóa tinh thần” [17;13].
Quay sang phương Đông, ở Trung Quốc, từ văn hóa đã xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ ở thời Tây Hán (206 trước Công nguyên - 220 sau Công nguyên), hai từ văn và hóa đã được kết hợp lại thành văn hóa, và nhìn chung có hàm nghĩa: Dung, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, điển chương, chế độ… để giáo hóa dân chúng. Trong quyển sách Thuyết uyển bài Chỉ vũ của Lưu Hướng viết: Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Như vậy, trong cách nghĩ của Lưu Hướng, từ văn hóa được hiểu như một cách giáo hóa đối lập với vũ lực, văn hóa gần nghĩa với giáo hóa [17;14]. Trong phong trào “Minh trị duy tân” khởi xướng vào năm 1868, Nhật Bản đã dịch rất nhiều sách của phương Tây, hai từ văn hóa đã được Nhật Bản dùng để dịch những từ có cùng gốc Latinh Cultura.
Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương Đông như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hóa mới được đưa vào khoa học, sử dụng như thuật ngữ khoa học. Năm 1774, từ này mới được xuất hiện trong thư tịch và ghi vào từ điển năm 1783 ở Đức. Người đầu tiên sử dụng từ văn hóa trong khoa học là Pufendorf, người Đức. Ông cho rằng văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên.
Trong khi nhà triết học H.Kant lại cho rằng văn hóa là sự phát triển, bộc lộ các khả năng, năng lực và sức mạnh của con người [17;14]. Cùng với các nhà triết học Đức, nhà triết học Vico người Ý cho rằng, văn hóa là một từ chỉ phức thể gồm: khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị. Đến năm 1855, khi Klemm công bố công trình Khoa học chung về văn hóa thì người ta mới coi khoa học về văn hóa hình thành và thực sự phát triển.Tylor công bố công trình Văn hóa nguyên thủy ở Luân Đôn. Lúc này, ngành khoa học về văn hóa mới chính thức được khẳng định, bởi E.Tylor đã Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh xác lập được đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học.
Trên cơ sở này, E.Tylor đã đề xuất một định nghĩa đầu tiên về văn hóa và khá nổi tiếng: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [10;19].Tylor cho rằng con người có được văn hóa với tư cách là một thành viên xã hội, không có cộng đồng nào không có văn hóa và cũng không có văn hóa nào tồn tại ngoài cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu định nghĩa này, có thể thấy, E.Tylor đã nhấn mạnh về mặt tinh thần của văn hóa. Định nghĩa này cũng nêu gộp mọi bình diện, cấp độ của văn hóa, do đó chưa nêu được bản chất văn hóa, vì vậy chỉ là định nghĩa mang tính chất mô tả và văn hóa không đơn giản là sự hiểu biết. Đây được xem là định nghĩa đầu tiên, cổ điển, tiêu biểu về văn hóa, dù chưa phải là hay nhất và đầy đủ nhất.
Đến giữa những năm 60 của thế kỷ này, Abraham Moles, một nhà văn hóa học Pháp, lại quan niệm: “Văn hóa - đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân tạo, do con người xây dựng nên trong tiến trình đời sống xã hội của mình” [13;21]. Các Pốp nhà văn hóa thuộc Liên Xô cũ thì định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của xã hội loài người” [19;21]. Như đã nói trên, bản thân thực thể văn hóa đã trở thành một đối tượng được nhiều chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn quan tâm đi sâu nghiên cứu, trước kia là khoa học nhân học và hiện nay là chuyên ngành văn hóa học. Cùng với thời gian, hàm nghĩa văn hóa không ngừng được mở rộng, ngày càng thêm phong phú, chuẩn xác, nhưng “văn hóa là gì?” vẫn là một vấn đề luôn được đặt ra để đón nhận những lời giải đáp ngày càng thấu đáo và đầy đủ hơn.
Những năm thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, vấn đề văn hóa được quan tâm, được xem là yếu tố có vị trí quan trọng để vừa bảo tồn dân tộc, vừa phát triển dân tộc. Quan điểm của UNESCO là: văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác. Rất nhiều cuộc hợp bàn về văn hóa dưới sự chủ trì của Liên hiệp quốc đã được tổ chức, qua đó nhiều định nghĩa về văn hóa đã được đề xuất. Tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa tổ chức tại Paris ngày 21/1/1988, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor lại đưa ra định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên hệ thống các giá trị, Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [13;22].
Bên cạnh đó, trong các bộ Từ điển bách khoa và các từ điển chuyên ngành của các nước, từ văn hóa cũng có một vị trí xứng đáng với những lời giải thích khá đầy đủ và sâu sắc: “Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ … những hiểu biết kĩ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chức môi trường con người… những công cụ, nhà ở… và nói chung toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó…” (Bách khoa toàn thư Pháp) [10;35]. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, văn hóa bắt nguồn từ lao động. Mác viết: Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại con người, và do đó tiền đề của mọi lịch sử, đó là người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, nước uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác.
Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ để nhằm duy trì đời sống con người [31;10-11]. Từ đây Mác cho rằng, khởi điểm của hành vi lịch sử đầu tiên là văn hóa. Văn hóa như là sự thăng hoa của quá trình sản xuất vật chất, là cái để con người khẳng định mình.
Và do vậy, bản chất con người luôn sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Quan niệm của Mác, Ăngghen về văn hóa đã được V.Lênin kế thừa và phát triển.