Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hồ Thanh (ngành Sư phạm) tiếp cận đề tài nghiên cứu văn hóa dân gian gắn liền với địa bàn tỉnh An Giang – vùng đất thuộc miền Tây Nam Bộ có đặc trưng địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi và là cái nôi của nền văn hóa Óc Eo cổ đại. Trong tiến trình lịch sử, sự cộng cư và giao lưu văn hóa giữa bốn dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer đã hình thành nên bản sắc văn hóa sông nước đặc thù. Địa bàn trọng tâm của nghiên cứu là khu vực núi Sam (xưa thuộc làng Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang) – nơi hội tụ khoảng 142 cơ sở tín ngưỡng, thờ tự cùng 5 công trình lịch sử văn hóa tiêu biểu được công nhận là di tích, gồm: đình Vĩnh Tế, chùa Tây An, chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc Hầu và miếu Bà Chúa Xứ. Trong đó, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng quy mô lớn nhất vùng, đã được công nhận là Lễ hội Dân gian cấp Quốc gia vào năm 2001.

Tác giả chỉ ra rằng, dù đã có nhiều công trình đề cập đến Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa đi sâu phân tích toàn diện các phong tục sinh hoạt, nghi thức cổ truyền, cũng như chưa đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thương mại hóa du lịch. Mặt khác, thực tiễn tổ chức lễ hội vẫn còn tồn tại những quan niệm sai lệch, hiện tượng mê tín dị đoan cần được làm rõ trên cơ sở khoa học.

Từ bối cảnh thực tiễn và yêu cầu lý luận, tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
    2. Đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu thể hiện qua Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác giữ gìn nét văn hóa dân tộc tại Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.
    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào không gian văn hóa lễ hội tại miếu Bà Chúa Xứ thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác-xít, kết hợp các khái niệm chuyên ngành văn hóa học, nhân học văn hóa và xã hội học văn hóa.

Về mặt khái niệm, tác giả tổng thuật lịch sử nhận thức về "văn hóa" từ phương Tây (gốc Latinh Colere dẫn đến Cultura, quan điểm của W. Wundt, Cicéron, Pufendorf, I. Kant, G. Vico, Klemm, E. Tylor, Abraham Moles) đến phương Đông (quan niệm thời Tây Hán trong Thuyết uyển bài Chỉ vũ của Lưu Hướng). Tác giả dẫn chứng các thống kê học thuật về số lượng định nghĩa văn hóa: A. Kroeber và C. Kluckhohn (158 định nghĩa), Abraham Moles (250 định nghĩa), Đoàn Văn Chúc (256 định nghĩa), Phan Ngọc (gần 400 định nghĩa), và Từ Hồng Hưng (hàng nghìn định nghĩa). Định nghĩa nền tảng được tiếp cận qua quan điểm Mác - Lênin (văn hóa bắt nguồn từ lao động sản xuất vật chất), tư tưởng Hồ Chí Minh (định nghĩa văn hóa năm 1942 trong tập Nhật ký trong tù), cùng định nghĩa của Giáo sư Vũ Khiêu và Giáo sư Viện sĩ Trần Ngọc Thêm (xác định 4 đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh). Bên cạnh đó, các khái niệm liên quan gồm văn minh (Civilisation), văn hiến và văn vật được phân định rõ ràng.

Về tín ngưỡng dân gian và cấu trúc lễ hội, công trình sử dụng các định nghĩa của Đào Duy Anh, Đào Văn Tập để phân tích bản chất của tín ngưỡng bản địa người Việt: tín ngưỡng phồn thực (thờ sinh thực khí Linga - Yoni, nõ nường, hình tượng giao phối trên thạp đồng Đào Thịnh và trống đồng Hoàng Hạ), tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng thờ tổ tiên/Vua Hùng và tín ngưỡng thờ Mẫu (Thánh Mẫu, Quốc Mẫu, Vương Mẫu). Mô hình cấu trúc lễ hội được phân tích qua hai thành tố hữu cơ: phần "Lễ" (nghi thức thiêng liêng thể hiện quan hệ Người - Thần) và phần "Hội" (sinh hoạt thế tục thể hiện quan hệ Người - Người) hướng tới ước vọng "Nhân khang vật thịnh".

Hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về văn hóa được hệ thống hóa chặt chẽ:

  • Đề cương văn hóa Việt Nam (1943): Ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa.
  • Tác phẩm "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam" (1948) của đồng chí Trường Chinh.
  • Hiến pháp năm 1992: Các Điều từ 30 đến 34 tại Chương III về bảo tồn di sản, bài trừ hủ tục mê tín.
  • Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998): Năm quan điểm chỉ đạo và mười nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X và Chỉ thị của Tỉnh ủy An Giang thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX).
Nhóm phương pháp Phương pháp cụ thể Mục đích ứng dụng trong khóa luận
Phương pháp luận chung Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Định hướng nhận thức văn hóa là hiện tượng xã hội vận động theo quy luật khách quan, gắn với điều kiện kinh tế - chính trị cụ thể.
Phương pháp tiếp cận chuyên ngành Phương pháp logic - lịch sử Phục dựng quá trình hình thành, biến đổi của miếu Bà Chúa Xứ, pho tượng đá và các nghi thức tế lễ theo dòng lịch sử khai hoang Nam Bộ.
Phương pháp thực chứng Phương pháp khảo sát thực tế và điền dã Quan sát trực tiếp cảnh quan, sơ đồ điện thờ, các ngày diễn ra lễ hội, hành vi hành hương và các biểu hiện sinh hoạt tín ngưỡng tại chỗ.
Phương pháp xử lý tư liệu Phân tích - tổng hợp và phương pháp hệ thống Phân tích các bộ phận nghi thức, tổng hợp số liệu di tích, đặt lễ hội trong hệ thống thiết chế văn hóa tâm linh của thị xã Châu Đốc và tỉnh An Giang.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm tài liệu thư tịch lịch sử (Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí), các văn kiện của Trung ương và Đảng bộ địa phương, báo cáo khảo sát khảo cổ học (tài liệu của Louis Malleret năm 1942), cùng tư liệu điều tra thực địa tại phường Núi Sam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận chuyên sâu về văn hóa học và lịch sử tư tưởng:

  • Lý luận về văn hóa và tín ngưỡng dân gian: Tác giả phân tích nội hàm văn hóa qua các thời kỳ, khẳng định văn hóa vừa mang tính phổ quát nhân loại vừa mang cốt cách dân tộc. Tín ngưỡng dân gian người Việt bắt nguồn từ phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước, mang tính đa thần, trọng âm, tôn vinh nữ tính và gắn bó mật thiết với tự nhiên. Tác giả phân tích các dạng thức tiêu biểu: tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng (ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch), tín ngưỡng phồn thực (thờ Linga - Yoni, tục hèm tùng - dí), và tín ngưỡng thờ Mẫu gắn liền với các hiện tượng tự nhiên hoặc các nữ nhân có công khai phá, bảo trợ cộng đồng.
  • Hệ thống đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước: Phân kỳ bốn giai đoạn phát triển tư duy văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay. Trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí văn hóa soi đường cho quốc dân đi, quan điểm "văn hóa kháng chiến", "Đảng là đạo đức, là văn minh". Làm rõ tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII với 5 quan điểm chỉ đạo mang tính chiến lược lâu dài và 4 nhóm nhiệm vụ cụ thể của Đảng bộ tỉnh An Giang nhằm giữ vững an ninh văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị và bảo tồn lễ hội truyền thống.
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu trong dòng chảy văn hóa dân tộc: Khẳng định quá trình chuyển biến từ tục thờ nữ thần nguyên thủy sang thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và các Thánh Mẫu địa phương. Tác giả luận giải sự thích ứng linh hoạt của tín ngưỡng thờ Mẫu khi người Việt di cư vào phương Nam, dung hợp các yếu tố văn hóa bản địa để tạo nên những biểu tượng tâm linh mới.

Chương 2: Giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang

Chương 2 là phần trọng tâm khảo cứu thực địa, miêu tả hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn:

  • Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội và khảo tả di tích miếu Bà: Khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử mở cõi của Thoại Ngọc Hầu gắn với kinh Vĩnh Tế và núi Sam. Miếu Bà được xây dựng kiên cố từ năm 1972 với kiến trúc tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp, lợp ngói đại ống màu xanh thẫm, các góc đao vút cao, hoa văn cổ lầu tiếp thu ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Độ và Hồi giáo.
  • Lai lịch pho tượng và sự dung hợp tín ngưỡng tại điện thờ:
    • Pho tượng Bà: Tượng bằng đá sa thạch, cao khoảng 1,25m, gắn liền với bệ đá dày 10cm, thể hiện dáng một người nam giới vương giả ngồi nghỉ ngơi (chân trái xếp bằng tròn, chân phải gập dựng đứng, tay trái chống đùi, ngực nở, bụng phệ, đầu đội vương miện uốn hoa văn móc câu, trước ngực có vòng kiềng và vầng trăng lưỡi liềm). Nhà khảo cổ Louis Malleret (1942) nhận định tượng mang phong cách tượng thần Vishnu của nghệ thuật Ấn Độ thuộc văn hóa Óc Eo; đoàn ngoại giao Ấn Độ năm 1986 nhận định đây là tượng mang dấu ấn Shivalinga. Khi người Việt đến khai phá, hương chủ Phạm Văn Tiên đã đề xướng thuê thợ Chợ Lớn về đắp lại nét mặt theo diện mạo nữ giới và gắn mắt pha lê sống động.
    • Bài trí điện thần: Điện thờ gồm hai lớp. Lớp trong cùng đặt tượng Bà ở giữa, hai bên là đôi hạc trắng; bên phải là bàn thờ Cậu (thực chất đặt một Linga bằng đá); bên trái là bàn thờ Cô (một tượng gỗ do dân làng tạc thêm cho cân xứng). Lớp thứ hai đặt bàn thờ Hội đồng (có hai chim phượng), bên phải là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn, bên trái là Hậu hiền khai cơ. Sự tích hợp này minh chứng cho tính dung hợp giữa tín ngưỡng phồn thực của cư dân cổ với đạo lý thờ tiền nhân và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
  • Diễn trình nghi thức Lễ hội Vía Bà (diễn ra từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch, ngày vía chính là 25):
Thời gian thực hiện Tên nghi thức Diễn biến và thành phần thực hiện chính Lễ vật / Đặc điểm tiêu biểu
Đêm trước lễ tắm Bà Lễ Khai hội Đánh trống khai hội, sân khấu hóa cảnh lưu dân mở đất chống thú dữ và rước tượng xuống núi; biểu diễn múa lân sư rồng, ca múa nhạc bốn dân tộc Kinh - Chăm - Hoa - Khmer; bắn pháo hoa. Mang tính chất lễ hội đương đại, thu hút hàng vạn người tham dự.
Sáng sau lễ Khai hội Lễ Phục hiện Tái hiện tích 9 cô gái đồng trinh rước tượng Bà từ đỉnh núi Sam xuống miếu; đoàn rước gồm hơn 2.000 diễn viên, lân sư rồng cùng du khách di chuyển từ Nhà bia Liệt sĩ theo đường Tháp lên đỉnh núi. Hoạt động sân khấu hóa ngoài trời có quy mô diễu hành lớn.
0 giờ đêm rạng ngày 24/4 Lễ Tắm Bà Đóng cửa chính điện lúc 19h để quét dọn; 21h các đoàn dâng lễ; đúng 0h ban lễ thắp nến, bức màn nhung đỏ kéo che bệ thờ; tổ 9 phụ nữ uy tín lau tượng bằng nước mưa nấu hoa thơm pha nước hoa; mặc 4 áo lót và 1 áo đại lễ; 2 nam giới lên thay mão; rải hoa lài. Nước hoa dâng cúng sau khi xịt lên tượng được trả lại cho khách làm vật gia bảo; kéo dài khoảng 1 giờ.
15 giờ ngày 25/4 Lễ Thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu Ban Quản trị và các bô lão lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu; đoàn lân dẫn đầu, long đình do 4 người khiêng; rước 4 bài vị: Thoại Ngọc Hầu, Chánh phẩm Châu Thị Tế, Nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị Hội đồng về miếu Bà. Tế tọa vị tại bàn thờ võ ca với một đầu heo và một cặp vịt.
0 giờ đêm ngày 25/4 Lễ Túc Yết Ông Chánh bái và các bô lão niệm hương, khởi cổ (3 hồi trống, 3 hồi chiêng); nhạc lễ trỗi bát cấu; 4 học trò lễ và 4 đào thài hầu dâng; dâng hoa, chúc tửu (3 lần rót rượu), hiến trà (3 lần rót trà); đọc văn tế; hóa văn tế và giấy vàng bạc; lật ngửa heo cúng. Một con heo trắng cạo lông sạch mổ sấp đặt trên giá gỗ sơn đỏ cao hơn 6 tấc; đĩa đựng huyết và lông heo bọc giấy hồng đơn ("mao huyết"); mâm xôi, trái cây, thớt đao, gạo, muối.
Sau lễ Túc Yết Lễ Xây Chầu Tổ chức tại võ ca; Chánh bái ca công nhúng nhành dương vào tô nước vẽ bùa tứ tung ngũ hoành, vẩy nước đọc 4 câu: "Nhất xái thiên thanh, Nhị xái địa ninh, Tam xái nhơn trường, Tứ xái quỷ diệt hình"; đánh trống theo nghi thức; đoàn hát bộ hát chúc 7 lớp cổ lệ và diễn tuồng bắt buộc "Thứ ba San Hậu". 7 lớp chúc: Khai tràng, Khai nhật nguyệt, Tam hiền, Tứ thiên vương, Bát tiên, Chưng đại bộ, Ông địa. Hát 5 suất, suất đêm 27 hát cúng không lấy thù lao.
4 giờ ngày 27/4 Lễ Chánh Tế Trình tự tiến hành tương tự như nghi thức tế Túc Yết, thể hiện lòng tôn kính tuyệt đối đối với thần linh bảo hộ. Lễ vật tương tự lễ Túc Yết.
15 giờ ngày 27/4 Lễ Tôn Vương và Hồi sắc Chánh tế ca công thọ hàm ấn và gươm lĩnh của Hoàng tử trong tuồng San Hậu dâng lên bàn thờ Bà; đốt văn xây chầu; đưa 4 bài vị lên long đình rước trở lại lăng Thoại Ngọc Hầu, kết thúc tuần lễ hội. Hoàn tất toàn bộ chu trình cúng tế cổ truyền.
  • Tập tục cổ truyền đã biến đổi hoặc bãi bỏ: Khóa luận khảo tả chi tiết các hiện tượng từng tồn tại trong lịch sử lễ hội: tục phát khăn bùa Bà (vải đỏ kích thước 2cm x 20cm xé từ khăn choàng tượng, từng tiêu tốn cả ngàn mét vải mỗi mùa hội); tục lắc ống tre xin xăm và gieo keo bằng hai mảnh gỗ hình trái đào; tục vay tiền Bà lấy may (tiền do Hội quý tế đóng dấu son); tục chực xin nước tắm Bà để uống trị bệnh trừ tà. Tác giả xác nhận hiện nay hủ tục uống nước tắm Bà đã chấm dứt hoàn toàn, lộc Bà chỉ còn là hoa quả trên bàn thờ.
  • Tác động xã hội và các nhóm giải pháp bảo tồn: Lễ hội thu hút hơn 2 triệu lượt khách hành hương mỗi năm, mang lại động lực kinh tế dịch vụ to lớn cho thị xã Châu Đốc nhưng cũng làm nảy sinh tình trạng quá tải, chen lấn, chèo kéo khách và nguy cơ phục hồi hủ tục. Tác giả đề xuất ba nhóm giải pháp:
    1. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và nâng cao nhận thức: Giải thích rõ nguồn gốc lịch sử, giá trị chân chính của di tích, xóa bỏ tâm lý mê tín dị đoan.
    2. Phát huy nét đẹp, điều đúng ở Lễ hội: Giữ nghiêm quy chuẩn các nghi lễ cổ truyền (Tắm Bà, Thỉnh sắc, Túc Yết, Xây Chầu), duy trì các hoạt động diễn xướng hát bộ mẫu mực, đồng thời nâng cao văn hóa ứng xử của nhân dân địa phương.
    3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và biện pháp quản lý của Nhà nước: Hoàn thiện quy chế quản lý lăng miếu, kiểm soát vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, bình ổn giá cả và quản lý chặt chẽ các nguồn tiền công đức phục vụ tái thiết xã hội.

Kết quả và đóng góp

Công trình của Nguyễn Hồ Thanh mang lại những kết quả khảo cứu cụ thể thông qua hệ thống tư liệu lịch sử và điền dã thực tế:

  • Kết quả tư liệu hóa hiện trạng di tích và lễ thức: Khóa luận thống kê chính xác mật độ di tích tại khu vực núi Sam với 142 cơ sở tín ngưỡng, khẳng định vai trò hạt nhân của 5 di tích trọng điểm cấp quốc gia. Khóa luận ghi lại tỉ mỉ kích thước pho tượng đá (cao 1,25m, bệ 10cm), đặc điểm điêu khắc nguyên bản (tượng nam thần Vishnu/Shivalinga thuộc văn hóa Óc Eo) và quá trình chuyển hóa thành nữ thần thông qua sự tác động của hương chủ Phạm Văn Tiên. Toàn bộ quy trình 8 lễ thức chính (từ Khai hội, Phục hiện đến Hồi sắc) cùng 7 lớp hát chúc kinh điển trong nghi thức Xây Chầu được ghi chép chuẩn xác theo lề lối cúng tế Nam Bộ.
  • Khái quát giá trị giao lưu và tiếp biến văn hóa: Làm sáng tỏ bản chất của tín ngưỡng Bà Chúa Xứ núi Sam như một điển hình của hiện tượng tiếp biến văn hóa: người Việt tiếp quản di vật đá của nền văn minh cổ, khoác lên đó thế giới quan tín ngưỡng thờ Mẫu, kết hợp đạo lý thờ cúng tiền nhân (Thoại Ngọc Hầu) và các nghi thức tế lễ nông nghiệp.
  • Đề xuất giải pháp quản lý lễ hội: Cung cấp hệ thống giải pháp phân định rõ ranh giới giữa tự do tín ngưỡng lành mạnh và các hành vi mê tín trục lợi, làm cơ sở khoa học cho công tác quản trị văn hóa của chính quyền địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Do giới hạn về mặt thời gian và nguồn lực điền dã của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân sư phạm, công trình tập trung chủ yếu vào việc mô tả hiện trạng, phân tích định tính và tổng thuật tài liệu lưu trữ; chưa triển khai được các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn với bảng hỏi định lượng (survey) để đo lường mức độ hài lòng hoặc đánh giá cơ cấu chi tiêu thực tế của 2 triệu lượt khách hành hương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam với các trung tâm thờ Mẫu khác ở Nam Bộ (như Lễ hội Linh Sơn Thánh Mẫu tại Tây Ninh) hoặc tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ ở Bắc Bộ. Đi sâu nghiên cứu các giải pháp kinh tế di sản nhằm quản lý hiệu quả nguồn thu công đức và giải quyết hài hòa xung đột giữa bảo tồn di sản với khai thác du lịch thương mại hóa.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị ứng dụng thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên, học viên ngành Sư phạm Lịch sử, Văn hóa học, Việt Nam học: Tài liệu cung cấp bản khảo tả chi tiết, mẫu mực về cấu trúc một lễ hội truyền thống Nam Bộ, đặc biệt là văn bản ghi chép các câu chú niệm trong lễ Xây Chầu và thứ tự các lớp hát bội cổ truyền (vở Thứ ba San Hậu).
  • Đối với cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và cứ liệu lịch sử rõ ràng để tham khảo xây dựng đề án bảo tồn không gian văn hóa lễ hội cấp quốc gia, phục vụ công tác tổ chức các sự kiện văn hóa - du lịch lớn (như Năm Du lịch quốc gia).
  • Đối với hướng dẫn viên và đơn vị lữ hành: Là nguồn tra cứu tin cậy về nguồn gốc pho tượng đá, kiến trúc miếu Bà và ý nghĩa từng nghi lễ, giúp giới thiệu chính xác cho du khách trong và ngoài nước, tránh diễn giải sai lệch mang tính mê tín.

Câu hỏi thường gặp

1. Pho tượng Bà Chúa Xứ núi Sam có nguồn gốc điêu khắc và đặc điểm tạo hình ban đầu như thế nào?
Theo kết quả nghiên cứu khảo cổ của Louis Malleret (1942) và đánh giá của phái đoàn ngoại giao Ấn Độ (1986), pho tượng đá sa thạch cao 1,25m (đúc liền bệ dày 10cm) nguyên gốc là tượng nam thần (thần Vishnu hoặc mang dấu ấn Shivalinga) của nền văn hóa Óc Eo cổ đại, thể hiện một người đàn ông vương giả ngực nở, bụng phệ, ngồi gập chân, đầu đội vương miện. Khi lưu dân người Việt đến khai phá, tượng được đưa về miếu và ông hương chủ Phạm Văn Tiên đã đề xướng việc thuê thợ điêu khắc từ Chợ Lớn về gọt giũa nét mặt thành diện mạo nữ giới và gắn thêm mắt pha lê.

2. Điểm khác biệt độc đáo trong cách bài trí điện thần miếu Bà Chúa Xứ so với các đền phủ thờ Mẫu thông thường là gì?
Điện thần miếu Bà không bố trí hệ thống Tam phủ hay Tứ phủ kinh điển mà tích hợp đa tầng tín ngưỡng. Lớp trong cùng gồm bàn thờ tượng Bà ở giữa, bên phải là bàn thờ Cậu (thực chất đặt một hiện vật Linga bằng đá - dấu tích tín ngưỡng phồn thực cổ), bên trái là bàn thờ Cô (một tượng gỗ do dân làng tạc thêm). Lớp thứ hai phối thờ Hội đồng cùng bàn thờ Tiền hiền khai khẩn và Hậu hiền khai cơ. Ngoài ra, miếu còn gắn liền lịch cúng trong năm để tri ân danh thần Thoại Ngọc Hầu và các bậc tiền nhân có công đào kinh Vĩnh Tế.

3. Các nghi thức cổ lệ chính của lễ hội diễn ra theo lịch trình thời gian nào?
Tuần lễ hội chính thức diễn ra từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch. Thứ tự các nghi lễ gồm: Lễ Khai hội (đêm trước lễ tắm Bà); Lễ Phục hiện rước tượng từ đỉnh núi Sam (sáng sau khai hội); Lễ Tắm Bà (0 giờ ngày 24/4); Lễ Thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu từ lăng về miếu (15 giờ ngày 25/4); Lễ Túc Yết (0 giờ ngày 25/4); Lễ Xây Chầu và diễn tuồng hát bộ (ngay sau lễ Túc Yết); Lễ Chánh Tế (4 giờ ngày 27/4); và Lễ Tôn Vương, Hồi sắc (15 giờ ngày 27/4).

4. Những tập tục hoặc hủ tục nào từng diễn ra xung quanh lễ hội nay đã được điều chỉnh hoặc bãi bỏ?
Văn bản ghi nhận trước đây có các tập tục: xin khăn bùa Bà (xé dải vải đỏ 2cm x 20cm từ khăn choàng tượng, từng tiêu tốn cả ngàn mét vải), lắc ống tre xin xăm và gieo hai mảnh gỗ hình trái đào (gieo keo), vay tiền Bà có đóng dấu son của Hội quý tế, và việc người dân chực lấy nước tắm lau cốt tượng để uống nhằm trị bệnh, trừ tà. Đến nay, hủ tục uống nước tắm Bà đã bị xóa bỏ hoàn toàn; lộc Bà phát cho khách hành hương chỉ mang tính biểu trưng (hoa quả trên bàn cúng).

5. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được nâng cấp và định vị trong chiến lược văn hóa - du lịch quốc gia vào những mốc thời gian nào?
Năm 2001, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Lễ hội Dân gian cấp Quốc gia (thuộc danh mục 15 lễ hội lớn của cả nước), đồng thời Tổng cục Du lịch kết hợp với tỉnh An Giang nâng cấp thành sản phẩm du lịch cấp quốc gia. Đến năm 2008, lễ hội tiếp tục được chọn là một trong 56 chương trình chính thức của Năm Du lịch quốc gia Mekong – Cần Thơ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hồ Thanh là công trình khảo cứu công phu, hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, kiến trúc và diễn trình nghi thức của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Tác giả đã chứng minh sinh động quá trình tiếp biến văn hóa độc đáo của người Việt tại vùng biên thùy Tây Nam Bộ thông qua việc dung hợp di vật cổ Óc Eo vào không gian tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ cúng tiền hiền khai hoang. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong công trình bám sát các nghị quyết văn hóa của Đảng, mang lại giá trị thực tiễn thiết thực cho công tác quản lý lễ hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và định hướng phát triển du lịch tâm linh bền vững tại thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.