Luận Văn ThS: Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Trên Báo và Đài PT-TH Thừa Thiên Huế

Chuyên khảo phân tích Luận văn ths bch vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên báo và đài pt th thừa, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Báo Chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2012 - 2014

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phạm vi nghiên cứu

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế, với lịch sử văn hóa phong phú, là nơi lưu giữ nhiều giá trị di sản văn hóa phi vật thể quý giá. Những di sản này không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là tài sản vô giá của nhân loại. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị này là nhiệm vụ cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các cơ quan truyền thông, đặc biệt là báo chí và đài phát thanh truyền hình, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa phi vật thể.

1.1. Di sản văn hóa phi vật thể Thừa Thiên Huế và giá trị của nó

Di sản văn hóa phi vật thể Thừa Thiên Huế bao gồm nhiều loại hình như nhã nhạc cung đình, lễ hội truyền thống và các trò chơi dân gian. Những giá trị này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn chứa đựng tri thức và kinh nghiệm sống của người dân địa phương. Việc bảo tồn những giá trị này là cần thiết để duy trì bản sắc văn hóa và phát triển du lịch bền vững.

1.2. Vai trò của báo chí trong việc bảo tồn di sản văn hóa

Báo chí có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức về di sản văn hóa phi vật thể. Thông qua các bài viết, chương trình truyền hình và phát thanh, báo chí giúp công chúng hiểu rõ hơn về giá trị và ý nghĩa của các di sản này. Điều này không chỉ góp phần bảo tồn mà còn khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc gìn giữ văn hóa.

II. Những thách thức trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Sự phát triển nhanh chóng của đô thị hóa, sự thay đổi trong lối sống và sự thiếu hụt nguồn lực cho công tác bảo tồn là những vấn đề cần được giải quyết. Đặc biệt, sự quan tâm của giới trẻ đối với văn hóa truyền thống đang giảm sút, điều này đòi hỏi các cơ quan truyền thông phải có những chiến lược hiệu quả hơn.

2.1. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến di sản văn hóa

Đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc nhiều di sản văn hóa phi vật thể bị lãng quên hoặc mai một. Các lễ hội truyền thống và các hình thức nghệ thuật dân gian không còn được tổ chức thường xuyên như trước. Điều này không chỉ làm giảm giá trị văn hóa mà còn ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng về di sản.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực cho bảo tồn văn hóa

Nguồn lực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể còn hạn chế. Các chương trình bảo tồn thường thiếu kinh phí và nhân lực, dẫn đến việc không thể thực hiện các hoạt động bảo tồn một cách hiệu quả. Điều này cần sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức xã hội để có thể duy trì và phát huy giá trị văn hóa.

III. Phương pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể

Để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc kết hợp giữa truyền thông và giáo dục là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục về văn hóa truyền thống cần được đưa vào trường học, đồng thời các cơ quan truyền thông cần có những chiến dịch tuyên truyền mạnh mẽ để nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Giáo dục văn hóa trong trường học

Giáo dục văn hóa trong trường học giúp học sinh hiểu rõ hơn về di sản văn hóa phi vật thể. Các hoạt động ngoại khóa như tham quan di tích, tham gia lễ hội truyền thống sẽ giúp học sinh cảm nhận và yêu thích văn hóa dân tộc hơn.

3.2. Chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức

Các chiến dịch truyền thông cần được thiết kế để thu hút sự chú ý của cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ. Sử dụng mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến để quảng bá về di sản văn hóa phi vật thể sẽ giúp tăng cường sự quan tâm và tham gia của cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trên báo và đài PT-TH Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng có nhiều bài viết và chương trình truyền hình đã thành công trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng. Tuy nhiên, cần có sự cải thiện về chất lượng và số lượng các nội dung liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể để thu hút sự quan tâm của công chúng hơn nữa.

4.1. Các chương trình thành công trong bảo tồn văn hóa

Một số chương trình truyền hình và bài viết trên báo Thừa Thiên Huế đã thành công trong việc giới thiệu các giá trị văn hóa phi vật thể. Những chương trình này không chỉ thu hút sự quan tâm của người dân mà còn góp phần nâng cao ý thức bảo tồn văn hóa.

4.2. Đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông

Đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông cho thấy rằng, khi thông tin được truyền tải một cách hấp dẫn và dễ hiểu, công chúng sẽ có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động bảo tồn văn hóa. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của báo chí trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

V. Kết luận và tương lai của di sản văn hóa phi vật thể

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ cho Thừa Thiên Huế mà còn cho toàn bộ đất nước. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan truyền thông, chính quyền và cộng đồng để đảm bảo rằng các giá trị văn hóa này được gìn giữ và phát huy. Tương lai của di sản văn hóa phi vật thể phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của tất cả mọi người.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác trong bảo tồn văn hóa

Sự hợp tác giữa các cơ quan truyền thông, chính quyền và cộng đồng là rất cần thiết để bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Chỉ khi tất cả cùng chung tay, các giá trị văn hóa mới có thể được gìn giữ và phát huy một cách hiệu quả.

5.2. Định hướng tương lai cho di sản văn hóa phi vật thể

Định hướng tương lai cho di sản văn hóa phi vật thể cần phải được xây dựng dựa trên sự phát triển bền vững. Các chính sách cần được thiết kế để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và bảo đảm rằng các giá trị văn hóa không bị mai một trong bối cảnh hiện đại.

12/07/2025
Luận văn ths bch vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên báo và đài pt th thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể 1. Di sản văn hóa Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa. Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang trong bài Định nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu – Người Tầu lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa học hiện đại. Cho nên xét theo t ừ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý nghĩa cơ bản là gi ồng gi ọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh (tiếng Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur).

Vậy muốn có ý nghĩa xác đáng ta ph ải công nhận cho chữ “Văn hóa” hiện thời một nghĩa mới nguồn gốc tự Tây Phương” [36, tr 17-19] Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã viết ngay ở bài Tựa của cuốn sách “Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn hóa về phuwowbg diện động là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì văn hóa là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bầy ra ở xã h ội loài ng ười “ [1, tr10] Tiếp đó trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự luận, học giả Đào Duy Anh đã đặt ngay câu hỏi “Văn hóa là gì?” và ông kết luận: “ Văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr 13] 15 Giáo sư Trần Quốc Vượng đưa ra ý kiến của mình xoay quanh khái niệm văn hóa và di sản văn hóa. Ông cho rằng: Văn hóa là do con người sáng tạo, có từ thửa bình minh của loài người. Khai niệm này được thay đổi theo thời gian trong quá trình sử dụng.

Giáo sư Trần Qu ốc V ượng đã ch ọn đưa ra nhận định của UNESCO: “ Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá tị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” [52, tr 72] GS.TSKH Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh th ần do con ng ười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong s ự t ương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội “[45, Tr10] Phan Ngọc: “ Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là mối quan h ệ.

Nó là m ối quan h ệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy bi ểu hi ện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với t ộc ng ười khác, cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa ch ọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là đ ộ khúc x ạ. T ất c ả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” [32,tr 19- 20] Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa như sau: Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học… Dựa theo quan điểm của UNESCO, Di sản văn hóa được phân thành hai loại: Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể 16 Di sản văn hóa vật thể : bao gồm những vật thể (hữu hình – Tangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn hóa – xã hội nào đó tạo ra.

Đó là nh ững di v ật, di tích nh ư đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thư tịch, tài liệu lưu trữ, mẫu vật tự nhiên, thắng cảnh thiên nhiên, và nh ững hi ện vật quý hiếm khác Di sản văn hóa phi vật thể: bao gồm những sản phẩm phi hình thể (vô hình – intangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử do một công đồng văn hóa xã hội nào đó tạo ra. Nó đ ược l ưu truy ền và bi ến t ấu theo các phương thức truyền khẩu, mô phỏng và bắt chước. Thuộc về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm có các loại hình văn ngh ệ dân gian (âm nhạc, ca múa, sân khấu, truyện kể, huyền thoại, tạp kỹ…), lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật chữa bệnh dân gian, nghệ thuật nấu ăn, bí quy ết trong sản xuất đồ mỹ nghệ các nghệ nhân, danh nhân văn hóa. Di sản văn hóa phi vật thể Trong luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/6/2001, di sản văn hóa phi vật thể đã được nhìn nhận là: “Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Điều 4, khoản 1 trong điều luật này định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình th ức l ưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối s ống, n ếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học 17 cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về văn hóa truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [30] Tính từ Công ước di sản thế giới (Paris, 1972) trở về trước, trong nhận thức về di sản văn hóa của nhân loại, UNESCO mới quan tâm đến các di sản khảo cổ, kiến trúc, địa danh văn hóa và tự nhiên trong danh mục Di sản thế giới. Di sản văn hóa phi vật thể vẫn chưa được đề cập đ ến v ới t ư cách như là những di sản của nhân loại. Năm 1989, với một nhân th ức hoàn toàn khác hẳn, da diện hơn, nhiều chiều h ơn, UNESCO đã xây d ựng văn bản quốc tế bảo vệ di sản văn hóa truyền miệng và vô hình của nhân loại, bảo vệ văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Tuyên bố về kiệt tác di sản truyền miệng và vô hình của nhân lo ại được thông qua tại Paris năm 1989 đã định nghĩa: “ Di sản văn hóa phi vật thể (Intangible Cultural Heritage) là toàn bộ những sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hóa, được thể hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân và được công nhận là phản ánh những mong muốn của một cộng đồng tới mức mà chúng phản ánh đ ược bản sắc văn hóa và xã hội của cộng đồng đó; những tiêu chuẩn và giá trị của những sáng tạo này được truyền miệng bằng cách mô phỏng hay bằng các hình thức khác. Trong số những hình thức sáng tạo, hình th ức c ủa d ạng sáng tạo này bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thu ật khác.

Ngoài những hình thức này, người ta cũng tính đ ến thông tin liên l ạc truyền thống” Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Văn hóa phi vật thể đó là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại khách quan trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng x ử c ủa con ng ười và 18 thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xu ất, giao ti ếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa - nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó. Có thể kể ra đây những dạng thức chính của di sản văn hóa phi vật thể: Ngữ văn truyền miệng, như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn.Các hình thức diễn xướng và trình diễn bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn x ướng). Những hành vi ứng xử của con người, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng. Các hình thức nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo, phong t ục, l ễ h ội nh ư Phật giáo, Ki-tô giáo, đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu.

Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vực của văn hóa phi v ật th ể. Tri thức dân gian ở chừng mực nào đó còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức bản địa, tri thức địa phương.Những làng nghề truyền thống 1. Một số loại hình văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở Tỉnh Thừa Thiên Huế Huế một vùng non sông kỳ thú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (World Heritage List) ngày 11/12/1993.

Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm về những di sản phi vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình thành nên nh ững phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, đã sinh thành nhi ều tài năng, đã hội tụ nhiều danh nhân để góp phần nên một Huế vừa mang đặc trưng bản sắc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng của một vùng đất Cố đô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này tập trung vào việc quản lý và bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa, một chủ đề quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Nó nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển du lịch bền vững. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý hiệu quả các di tích, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc bảo tồn văn hóa.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử văn hóa đình giàn phường xuân đỉnh quận bắc từ liêm hà nội, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quản lý di tích tại một địa phương cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Khoá luận bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của khu di tích bà triệu tỉnh thanh hóa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Khóa luận tốt nghiệp kinh tế chính trị những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách về du lịch văn hoá tỉnh thái bình, để thấy được mối liên hệ giữa di tích văn hóa và sự hài lòng của du khách. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực quản lý di tích và văn hóa.