Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể 1. Di sản văn hóa Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa. Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang trong bài Định nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu – Người Tầu lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa học hiện đại. Cho nên xét theo t ừ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý nghĩa cơ bản là gi ồng gi ọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh (tiếng Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur).
Vậy muốn có ý nghĩa xác đáng ta ph ải công nhận cho chữ “Văn hóa” hiện thời một nghĩa mới nguồn gốc tự Tây Phương” [36, tr 17-19] Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã viết ngay ở bài Tựa của cuốn sách “Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn hóa về phuwowbg diện động là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì văn hóa là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bầy ra ở xã h ội loài ng ười “ [1, tr10] Tiếp đó trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự luận, học giả Đào Duy Anh đã đặt ngay câu hỏi “Văn hóa là gì?” và ông kết luận: “ Văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr 13] 15 Giáo sư Trần Quốc Vượng đưa ra ý kiến của mình xoay quanh khái niệm văn hóa và di sản văn hóa. Ông cho rằng: Văn hóa là do con người sáng tạo, có từ thửa bình minh của loài người. Khai niệm này được thay đổi theo thời gian trong quá trình sử dụng.
Giáo sư Trần Qu ốc V ượng đã ch ọn đưa ra nhận định của UNESCO: “ Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá tị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” [52, tr 72] GS.TSKH Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh th ần do con ng ười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong s ự t ương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội “[45, Tr10] Phan Ngọc: “ Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là mối quan h ệ.
Nó là m ối quan h ệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy bi ểu hi ện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với t ộc ng ười khác, cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa ch ọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là đ ộ khúc x ạ. T ất c ả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” [32,tr 19- 20] Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa như sau: Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học… Dựa theo quan điểm của UNESCO, Di sản văn hóa được phân thành hai loại: Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể 16 Di sản văn hóa vật thể : bao gồm những vật thể (hữu hình – Tangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn hóa – xã hội nào đó tạo ra.
Đó là nh ững di v ật, di tích nh ư đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thư tịch, tài liệu lưu trữ, mẫu vật tự nhiên, thắng cảnh thiên nhiên, và nh ững hi ện vật quý hiếm khác Di sản văn hóa phi vật thể: bao gồm những sản phẩm phi hình thể (vô hình – intangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử do một công đồng văn hóa xã hội nào đó tạo ra. Nó đ ược l ưu truy ền và bi ến t ấu theo các phương thức truyền khẩu, mô phỏng và bắt chước. Thuộc về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm có các loại hình văn ngh ệ dân gian (âm nhạc, ca múa, sân khấu, truyện kể, huyền thoại, tạp kỹ…), lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật chữa bệnh dân gian, nghệ thuật nấu ăn, bí quy ết trong sản xuất đồ mỹ nghệ các nghệ nhân, danh nhân văn hóa. Di sản văn hóa phi vật thể Trong luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/6/2001, di sản văn hóa phi vật thể đã được nhìn nhận là: “Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Điều 4, khoản 1 trong điều luật này định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình th ức l ưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối s ống, n ếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học 17 cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về văn hóa truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [30] Tính từ Công ước di sản thế giới (Paris, 1972) trở về trước, trong nhận thức về di sản văn hóa của nhân loại, UNESCO mới quan tâm đến các di sản khảo cổ, kiến trúc, địa danh văn hóa và tự nhiên trong danh mục Di sản thế giới. Di sản văn hóa phi vật thể vẫn chưa được đề cập đ ến v ới t ư cách như là những di sản của nhân loại. Năm 1989, với một nhân th ức hoàn toàn khác hẳn, da diện hơn, nhiều chiều h ơn, UNESCO đã xây d ựng văn bản quốc tế bảo vệ di sản văn hóa truyền miệng và vô hình của nhân loại, bảo vệ văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Tuyên bố về kiệt tác di sản truyền miệng và vô hình của nhân lo ại được thông qua tại Paris năm 1989 đã định nghĩa: “ Di sản văn hóa phi vật thể (Intangible Cultural Heritage) là toàn bộ những sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hóa, được thể hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân và được công nhận là phản ánh những mong muốn của một cộng đồng tới mức mà chúng phản ánh đ ược bản sắc văn hóa và xã hội của cộng đồng đó; những tiêu chuẩn và giá trị của những sáng tạo này được truyền miệng bằng cách mô phỏng hay bằng các hình thức khác. Trong số những hình thức sáng tạo, hình th ức c ủa d ạng sáng tạo này bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thu ật khác.
Ngoài những hình thức này, người ta cũng tính đ ến thông tin liên l ạc truyền thống” Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Văn hóa phi vật thể đó là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại khách quan trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng x ử c ủa con ng ười và 18 thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xu ất, giao ti ếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa - nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó. Có thể kể ra đây những dạng thức chính của di sản văn hóa phi vật thể: Ngữ văn truyền miệng, như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn.Các hình thức diễn xướng và trình diễn bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn x ướng). Những hành vi ứng xử của con người, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng. Các hình thức nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo, phong t ục, l ễ h ội nh ư Phật giáo, Ki-tô giáo, đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu.
Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vực của văn hóa phi v ật th ể. Tri thức dân gian ở chừng mực nào đó còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức bản địa, tri thức địa phương.Những làng nghề truyền thống 1. Một số loại hình văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở Tỉnh Thừa Thiên Huế Huế một vùng non sông kỳ thú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (World Heritage List) ngày 11/12/1993.
Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm về những di sản phi vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình thành nên nh ững phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, đã sinh thành nhi ều tài năng, đã hội tụ nhiều danh nhân để góp phần nên một Huế vừa mang đặc trưng bản sắc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng của một vùng đất Cố đô.