Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐÌNH GIÀN, XUÂN ĐỈNH, BẮC TỪ LIÊM, HÀ NỘI 1. Một số khái niệm 1. Di sản văn hóa Hiện nay, đa số học giả cho rằng, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là thành quả lao động của nhân dân, là kết quả của những giao lưu, tiếp biến văn hóa, tiếp thu những tinh hoa của các nền văn minh trên thế giới để bồi đắp thêm bề dày văn hóa dân tộc và tạo nên những giá trị văn hóa mới.
Cho nên có thể hiểu di sản văn hóa là kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần của cha ông đã để lại cho các thế hệ con cháu. "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [26, tr. Thống nhất với quan điểm trên, có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là những sản phẩm sáng tạo đó. Tuy nhiên, không phải bất cứ sản phẩm nào do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của mình cũng được xem là di sản văn hóa.
Từ cách giải thích này, chúng ta có thể hình dung được DSVH được hiểu một cách đơn giản như sau: DSVH gồm DSVH phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. UNESCO chia DSVH thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể (physical and nonphysical cuture). DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật 8 ở bảo tàng, công cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử, các di tích, danh thắng. DSVH phi vật thể bao gồm các loại hình văn học - nghệ thuật (âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại), các sinh hoạt và kinh nghiệm dân gian (lễ hội, phong tục, tập quán, nghi lễ, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ) [32, tr.
Nghiên cứu khái niệm trên có thể nhận định rằng DSVH Việt Nam chính là thành quả của hàng nghìn năm lịch sửa đấu tranh dựng nước và giữ nước của toàn dân tộc qua các thế hệ. DSVH nói chung phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và sức mạnh của dân tộc đó, đồng thời là bằng chứng sống động nhất, hấp dẫn nhất cho sự vận động, biến chuyển, giao thoa và sự phát triển toàn diện của đời sống xã hội. Như vậy, DSVH còn phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau tiêu biểu giữa các dân tộc, giữ các quốc gia.DSVH là tài sản quý giá, tài nguyên đặc biệt không thể tái sinh, không thể thay thế, nhưng rất dễ bị biến dạng trước những tác động của điều kiện tự nhiên và những hành vi của con người. Để gìn giữ kho tàng DSVH cho chúng ta hôm nay, biết bao thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu, đổ bao mồ hôi nước mắt, công sức cất giữ rồi lưu truyền cho hậu thế.
Di sản văn hóa vật thể Trong cuộc sống hàng ngày, để tạo nên lương thực, thực phẩm. đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại mà cha ông đã tạo nên những sản phẩm văn hóa. Những giá trị vật chất và tinh thần đó được kết tinh, trao truyền qua các thế hệ và trở thành những DSVH vật thể. Do đó, chúng ta có thể hiểu DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
9 Trong đề tài DSVH vật thể chủ yếu đề cập đến di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có cả di vật và cổ vật. Điều này được quy định trong Luật Di sản hóa, cụ thể: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.
DSVH vật thể luôn hiện hữu quanh chúng ta. Những di sản đó chúng ta có thể nắm được, sờ được, nhìn được nên dễ nhận biết và dễ bảo tồn, khai thác hơn[26, tr. Di sản văn hóa phi vật thể DSVH phi vật thể là một bộ phận của di sản văn hóa và Điều 4 Luật Di sản văn hóa đã xác định rõ: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [26, tr. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009 đã sửa đổi, bổ sung khái niệm và khái quát cô đọng hơn về DSVH hóa phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa 10 học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và các hình thức khác [26, tr.
Khái niệm DSVH phi vật thể cũng đã được UNESCO nêu trong Công ước quốc tế về bảo vệ DSVH phi vật thể tại phiên họp lần thứ 32 ở Paris (năm 2003): DSVH phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVH phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người [32, tr. Di tích và di tích lịch sử văn hoá: Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: "Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại" [14, tr. Theo Luật Di sản Văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được qui định: "Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [26, tr.
Trong đó, Di vật được 11 hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quí hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Qua nghiên cứu khái niệm trên, có thể nhận định di tích LSVH là nơi lưu giữ giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về lịch sử dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu chiến công dựng nước và giữ nước của cha ông, đó còn là những nơi có giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị. Mỗi di tích LSVH đều chứa đựng một giá trị văn hóa, lịch sử nhất định, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành và phát triển xã hội qua mỗi thời đại. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hoá 1.
Quản lý Các Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [20, tr.29]; giải thích cho nội dung này, Các Mác viết: Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [21, tr. Theo Ăngghen cho rằng: “Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người” [21, tr. 12 Quan điểm của Mai Hữu Khuê trong cuốn Lý luận quản lý nhà nước: Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của một chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định.
Đây có thể là khái niệm có ý nghĩa thông thường và phổ biến nhất về quản lý [18, tr.