Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN ĐỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Hoạt động tự học của học viên trường đại học quân đội 1. Học viên trường đại học quân đội 1. Khái niệm Điều lệ công tác nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam quy định khái niệm học viên được xác định như sau “Người đang học tập, rèn luyện, bồi dưỡng kiến thức và nghiên cứu khoa học trong nhà trường quân đội, gọi là học viên; được tổ chức tại các lớp học, khóa học với các loại hình đào tạo khác nhau; được quản lý học tập tập trung, không tập trung theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng.
Học viên có đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định đối với từng cấp học và trình độ đào tạo của Nhà nước; thực hiện nhiệm vụ học viên theo quy định của điều lệ này và những quy định khác của Bộ Quốc phòng”[2] 1. Đặc điểm học tập của học viên trường đại học quân đội: Hoạt động học tập của học viên trường đại học quân đội diễn ra trong môi trường sư phạm có tính đặc thù, được tổ chức chặt chẽ, căng thẳng về trí óc, cường độ hoạt động về thể lực lớn, yêu cầu đòi hỏi cao, kỷ luật khắt khe và có tính định hướng rõ ràng. Cụ thể: - Trường đại học quân đội là môi trường sư phạm có tính đặc thù, giảng dạy và học tập được tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm, cường độ hoạt động cao, diễn ra trong khuôn khổ điều lệnh, điều lệ nghiêm ngặt, theo đó các hoạt động học tập của học viên cũng có tính tổ chức, tính kỷ luật cao hơn. Điều đó được thể hiện rất rõ trong mục tiêu đào tạo gồm hệ thống những phẩm chất, năng lực cần có của người cán bộ quân đội; những tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quân sự; năng lực thực hành lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các phân đội phải được học tập, rèn luyện và trau dồi; năng lực tự học, tự nghiên cứu các môn khoa học để làm chủ, chinh phục kiến thức; tất cả phải được hội tụ ở người cán bộ để cống hiến, phục vụ trong quân đội lâu dài.
Đồng thời, môi trường sư phạm có tính 10 Luan van đặc thù còn thể hiện ở chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo rất cơ bản, thiết thực, vững chắc, có sự tập trung chuyên sâu vào các môn khoa học quân sự. Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý học viên và cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy, học tập cũng mang tính đặc thù của lĩnh vực hoạt động quân sự. - Quá trình học tập của học viên trường đại học quân đội là quá trình lao động với sự căng thẳng cao về trí óc và thể lực. Căng thẳng trong lao động trí óc là phải làm sao để làm chủ được một khối lượng kiến thức rất lớn không chỉ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn mà cả kiến thức khoa học quân sự, khoa học sư phạm…Cùng với việc lĩnh hội hệ thống thống tri thức, người học còn phải rèn luyện thể lực, thực hành, thực tập rất nghiêm túc, khắt khe theo mục tiêu đào tạo; mặc dù quá trình thực hành, thực tập chỉ mang tính chất tập dượt, nhưng do tính chất hoạt động nghề nghiệp sau này, đòi hỏi người học viên phải có tâm huyết, trăn trở, tìm tòi và lao động hết mình mới có thể có được kết quả tốt; đồng thời, rèn luyện cả ý chí, nghị lực, phong cách, tác phong, phẩm chất, đạo đức để trở thành người cán bộ, đảng viên mẫu mực trong tương lai.
- Học viên học tập trong trường đại học quân đội luôn chịu sự chi phối, định hướng bởi mục tiêu để trở thành cán bộ phục vụ lâu dài trong quân đội, thể hiện ở nhiệm vụ của học viên phải “chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, quy định của Bộ Quốc phòng và các quy chế, quy định của nhà trường. Học tập, huấn luyện và rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, đào tạo của nhà trường; chủ động, tích cực tự học, tự rèn luyện, tự nghiên cứu, sáng tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tu dưỡng đạo đức lối sống, phẩm chất nhân cách của người cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của quân đội”[3] trong suốt quá trình học tập; môi trường học tập có tính kỷ luật cao, vừa học kiến thức, vừa rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, rèn luyện tính kiên trì nhẫn nại, rèn luyện thể lực để có đủ sức khỏe hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Trong quá trình học tập, rèn luyện phải chủ động, tích cực, tự giác, tự học, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, say sưa nghiên cứu khoa học, yêu ngành, yêu nghề, rèn luyện để có kỹ năng, kỹ xảo trong nghề nghiệp 11 Luan van tương lai; biết tổ chức Xêmina, tập bài, thực hành, thực tập,…luôn thể hiện sự nghiêm túc, cụ thể, tỉ mỉ, có ý chí quyết tâm khắc phục mọi khó khăn hướng tới mục đích hoàn thiện nhân cách của bản thân đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường. Chính bởi tính định hướng rõ ràng này đã tạo ra động lực thúc đẩy mạnh mẽ học viên tìm tòi phương pháp tự học và học tập trên giảng đường có hiệu quả hơn, trong quá trình học phát hiện và giải quyết kịp thời các yêu cầu của môn học cũng như các vấn đề thực tiễn đặt ra.
Hoạt động tự học của học viên trường đại học quân đội 1. Hoạt động học: Trong cuộc sống hàng ngày, quá trình lao động sản xuất hoặc hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động học diễn ra một cách ngẫu nhiên. Cách học này diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi không gian và thời gian, đây là cách học không có chủ định dẫn đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc, chủ yếu là lĩnh hội được những kinh nghiệm mà không có hệ thống. Xã hội luôn luôn vận động và phát triển, con người ngoài việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra còn cần phải nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà việc học ngẫu nhiên không tạo ra được.
Khi đã hiểu và nắm được các quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và tư duy cũng như sự hình thành, phát triển của con người trong thế giới tự nhiên thì con người mới cải tạo được tự nhiên, cải tạo được xã hội để phục vụ cuộc sống của con người. Để có được những năng lực đó người ta cần phải học một cách có chủ đích. Hoạt động học cũng được tác giả Lại Đức Hậu (năm 2011) cho rằng “Học là quá trình và là một hoạt động nhằm thay đổi kinh nghiệm cá nhân của người học một cách bền vững và quan sát được”[8]. Kế thừa những quan điểm trên, trong luận văn này chúng tôi xác định khái niệm hoạt động học như sau: Hoạt động học là hoạt động có chủ đích của con người để hình thành nên tri thức, tạo ra năng lực thực tiễn để chinh phục thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
Tự học: Phạm trù tự học đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những khái niệm, 12 Luan van quan điểm khác nhau về vấn đề này như: Trong từ điển Tiếng Việt cho rằng “Tự học là học lấy một mình trong sách chứ không có thầy dạy”[16]. Khẳng định tự học là hoạt động có mục đích của con người, là điều cần thiết và rất quan trọng trong quá trình tiếp nhận tri thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về việc tự học, tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”[15].
Theo Người “Tự học chính là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập. Tự học có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp nhận tri thức, là phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân”. Cuộc đời của Người là một tấm gương sáng về tự học, kiên định mục tiêu, lý tưởng, công việc. Tự học là một trong những yếu tố quyết định tạo nên nhân cách và trí tuệ uyên thâm của Người.
Tự học là một phương pháp học tập khoa học, với phương châm “lấy tự học làm cốt” và phải biết “tự động học tập”. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu cho rằng “Tự học là hoạt động đòi hỏi có ý thức tự giác cao, mang tính độc lập, cá nhân phải có thái độ đúng, có hệ thống kỹ năng tự học. Tự học thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo, tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự kiểm tra việc học của chính mình”[1]. Tác giả Lưu Xuân Mới đưa ra khái niệm “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã quy định”[13].
Khẳng định tự học là một trong những hoạt động chủ yếu của sinh viên. Đó là hình thức người học tự tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp cần thiết dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển và điều chỉnh của giáo viên để phát triển và hoàn thiện nhân cách. Từ những quan điểm, khái niệm về tự học nêu trên, chúng tôi hiểu rằng, tự học là hoạt động tổ chức nhận thức độc lập của cá nhân người học, tự phát huy năng lực của mình để thực hiện các nhiệm vụ học tập được xác định. 13 Luan van Tiếp thu và kế thừa những khái niệm và quan điểm trên, luận văn này chúng tôi xác định và đưa ra khái niệm tự học như sau: Tự học là hoạt động tự động, tự giác học tập, thể hiện tính tích cực cao trong quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng của người học.