phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Ứng dụng họa tiết hoa văn trên gốm thời Trần trong dạy học môn Trang trí cơ bản 2 cho Sinh viên ngành Thiết kế Thời trang và Thực nghiệm sƣ phạm. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm công cụ 1.
Dạy - học Có rất nhiều cách diễn đạt về khái niệm dạy và học, song hiểu một cách khái quát: Dạy – là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình người học chiếm lĩnh tri thức. Học – là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức của người học dưới sự điều khiển của người dạy. “Quá trình dạy học là một quá trình dƣới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của ngƣời giáo viên, ngƣời học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học”[23,tr. Trong đó, dạy và học là hai hoạt động thống nhất với nhau không thể tách rời trong quá trình dạy học.
Ngƣời dạy đƣa ra các yêu cầu, nhiệm vụ nhằm kích thích tƣ duy của ngƣời học. Ngƣời học tự đƣa ra các nhiệm vụ học tập của mình, ý thức đƣợc nhiệm vụ cần giải quyết, có nhu cầu và biến các nhiệm vụ của ngƣời dạy thành của mình để giải quyết các nhiệm vụ đó. Dựa trên những cơ sở phƣơng pháp và các quan điểm tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu Giáo dục học đại học đã đƣa ra nhiều khái niệm về quá trình dạy học ở đại học. Theo quan điểm tiếp cận hoạt động thì dạy học ở Đại học là quá trình hoạt động phối hợp, thống nhất của ngƣời dạy và ngƣời học nhằm giúp sinh viên chiếm lĩnh nội dung học vấn đại học.
Theo quan điểm tiếp cận nhân cách thì dạy học ở đại học là quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên – những cử nhân khoa học tƣơng lai. 8 Dƣới ánh sáng của lí luận dạy học hiện đại thì quá trình dạy học ở đại học là quá trình tổ chức, điều khiển và tự tổ chức, tự điều khiển của ngƣời dạy và ngƣời học. Theo quan điểm tiếp cận hệ thống phức hợp, dạy học ở đại học là một hệ thống phức hợp đƣợc cấu trúc bởi nhiều thành tố có mối quan hệ tƣơng tác với nhau, trong đó dạy và học là hai nhân tố trung tâm, đặc trƣng cơ bản nhất [38,tr. Về bản chất, hoạt động dạy học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên đƣợc tiến hành dƣới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Bản chất của hoạt động học là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt đƣợc của cá nhân, từ đó có đƣợc tri thức, kĩ năng, thái độ mới. Trang trí Thích làm đẹp là bản tính của con ngƣời, không chỉ cho bản thân mà còn cho mọi vật dụng quanh mình. Điều này xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại khi con ngƣời có trí khôn. Bằng chứng là vô vàn các công cụ lao động thô sơ bằng đá của ngƣời nguyên thủy đƣợc trau chuốt và trang trí tối giản.
Trải qua chiều dài lịch sử, trang trí gắn liền với cuộc sống của con ngƣời, phát triển mạnh mẽ song hành cùng nền văn hóa và sự tiến bộ khoa học kĩ thuật. Theo từ điển Hán Việt, trang trí có nghĩa là bầy biện cho đẹp. Theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông của tác giả Đặng Bích Ngân chủ biên “trang trí là nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Nhờ những yếu tố trang trí, các vật dụng vừa có giá trị thẩm mĩ, vừa nâng cao đƣợc giá trị sử dụng.
Vì vậy trang trí nằm trong nghệ thuật ứng dụng”[21,tr. 9 Đời sống con ngƣời với nhiều nhu cầu thiết yếu ở nhiều lĩnh vực nhƣ ăn mặc, ở, lao động, học tập, nghỉ ngơi, giải trí… nên nghệ thuật trang trí có nhiều chuyên ngành khác nhau để đáp ứng phù hợp các nhu cầu ấy. Ví dụ: Trang trí nội thất: làm đẹp trong không gian trong nhà, cơ quan, chỗ giải trí, hội họp… Trang trí ngoại thất làm đẹp tất cả các không gian bên ngoài nhƣ vƣờn tƣợc, lối đi… Trang trí phục trang làm đẹp cho con ngƣời bằng các trang phục quần áo, phụ kiện…phù hợp với mọi lứa tuổi Trang trí mỹ nghệ làm đẹp cho các sản phẩm gốm sứ, mây tre đan, thủy tinh, vàng bạc… Trang trí ấn loát làm đẹp cho các tạp chí, ấn phẩm sách báo… Trang trí sân khấu phục vụ các yêu cầu về mặt mỹ thuật của sân khấu, đạo cụ, phông màn, hóa trang… Trang trí công nghiệp vẽ và thiết kế các sản phẩm công nghiệp…. Trang trí là một “hình thái nghệ thuật đặc biệt” của con ngƣời, là một phạm trù thẩm mỹ phục vụ cuộc sống con ngƣời, là nghệ thuật làm ra “cái đẹp” để thỏa mãn nhu cầu trƣớc hết là thông tin, giao tiếp với những kí hiệu gắn liền với những tiến bộ và sự phát triển tất yếu của đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời.
Bởi vậy nó mang đầy đủ những đặc điểm văn hóa có tính dân tộc và phù hợp với thời đại.Trang phục Trang phục đƣợc ghép bởi hai từ, trong đó có thể hiểu một cách nôm na “trang” là trang sức, phụ kiện nhƣ dây chuyền, vòng, giầy, túi xách…và “ phục” là bộ y phục nhƣ áo, váy, quần…Theo TS. Trần Thủy Bình “ Trang phục bao gồm tất cả những gì con ngƣời mang, khoác lên cơ thể, kể cả đội 10 lên đầu, đồ đi dƣới chân, đồ đắp trên mặt và những gì đƣợc sử dụng kèm theo quần áo”[5, tr.14] Chúng ta đã biết, trang phục xuất hiện rất lâu từ thời kỳ nguyên thủy, với mục đích đầu tiên là mặc để giữ ấm và bảo vệ cơ thể. Cùng với sự phát triển của loài ngƣời, trang phục cũng thay đổi theo với nhiều chức năng khác nhau. Chức năng đầu tiên của trang phục là “giúp cơ thể đƣợc an toàn”[5, tr.
Ví dụ, trong các điều kiện khí hậu bất lợi, quần áo giúp chúng ta ấm áp vào thời tiết lạnh giá, giúp tránh nắng, tránh gió…hoặc tránh thƣơng tích. Chức năng thứ hai ở cấp độ cao hơn đó là “nhu cầu giao tiếp”[5,tr. Xã hội phát triển với những quan niệm và khuôn khổ về đạo đức và văn hóa. Mỗi một nƣớc, thậm chí một vùng đều có những nét văn hóa riêng.
Chính vì vậy, trang phục phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính, phải phù hợp với điều kiện thời tiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và mang bản sắc dân tộc. Thế nên xuất hiện nhiều loại trang phục khác nhau nhƣ trang phục ở nhà, trang phục dạo phố, trang phục công sở, trang phục dạ hội… Tiếp đến mức độ “trang phục thể hiện đẳng cấp và địa vị xã hội”[5,tr. Ví nhƣ khi chúng ta cùng ngắm nhìn ngƣời diễn viên trên sân khấu. Có lúc anh ta là chiến sĩ xông pha trận mạc, khi lại nhà doanh nhân, lúc nữa lại là nghệ sĩ, lần sau lại là nhà vua.
Tại sao cùng là một ngƣời mà mỗi lúc một khác? Trang phục chính là một phƣơng tiện hữu hiệu diễn đạt thân phận của mỗi ngƣời trong xã hội cùng phong tục tập quán, tôn giáo, bản chất, hành động…. Và cuối cùng đến mức độ cao hơn nữa, đó là “trang phục thể hiện cái tôi cá nhân của mỗi ngƣời”[5,tr. Trang phục để tô điểm, làm đẹp thêm cho ngƣời mặc, giúp con ngƣời trở nên hấp dẫn hơn.Thể hiện khiếu thẩm mỹ riêng. Thể hiện tiềm năng bản thân nhƣ kinh tế, nhân cách, năng lực, trình độ văn hóa.
11 Nhƣ vậy, trang phục đáp ứng cả nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngƣời. Ngành Thiết kế Thời trang Khi xã hội hiện đại phát triển, nhu cầu ăn mặc đẹp và xu hƣớng đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống, ngành Thiết kế Thời trang hiển nhiên đƣợc coi là một biểu tƣợng thời thƣợng. Tuy rằng trang phục đã xuất hiện từ rất lâu, nhƣng lịch sử thiết kế thời trang chỉ chính thức có mặt gần đây, và có một tầm ảnh hƣởng to lớn đến nhiều mặt của xã hội. Với thời đại bùng nổ các phƣơng tiện khoa học kĩ thuật, truyền thông, cái đẹp đƣợc tôn vinh và quan tâm hơn bao giờ hết.
Ngành thiết kế thời trang ngày càng phát triển. Nó trở thành một ngành công nghiệp mỗi ngày một lớn mạnh, sản xuất nhiều mẫu mã phong phú đa dạng. Các hãng thời trang danh tiếng thế giới nhƣ Hermès, Chanel, Guci, Louis Vuitton, Ralph lauren, D&G, Dior, Armani. ngày càng thể hiện tầm ảnh hƣởng của mình.
Những sản phẩm nổi tiếng đó là mơ ƣớc hầu hết của tất cả mọi ngƣời. Yếu tố quan trọng trong ngành thiết kế thời trang hiện đại là đòi hỏi sự mới lạ, đẹp về thẩm mỹ, độc đáo về phong cách, vừa có tính kế thừa, vừa phát huy các yếu tố mới. Thiết kế thời trang là ngành gắn liền với nền công nghiệp làm đẹp gồm ba lĩnh vực chính: trang phục, phụ kiện, trang sức. Các sản phẩm thời trang ra đời luôn đi theo xu hƣớng thẩm mỹ của xã hội giúp làm đẹp cho con ngƣời, cho cuộc sống với cả hai hƣớng: Trình diễn nghệ thuật (trang phục biểu diễn) và hƣớng ứng dụng thực tế (trang phục thƣờng ngày) Ngƣời làm thiết kế thời trang cần phải sáng tạo, tìm tòi, nghiên cứu và đón đầu các xu hƣớng Mốt (mode) Mốt là khái niệm có nhiều cách hiểu.
Có thể mốt là những gì xảy ra và tồn tại của thời trang, đƣợc lƣu truyền rộng rãi và đƣợc số đông ngƣời biết đến trong một thời gian nhất định. Song hiểu một cách đơn giản, mốt là 12 trang phục đƣơng thời, là tập hợp những thói quen và thị hiếu thẩm mỹ phổ biến nhất trong cách ăn mặc, là cái mới đang đƣợc số đông hƣởng ứng, là thị hiếu thẩm mỹ mới nhất đang đƣợc đa số ngƣời ƣa chuộng. Tuy vậy, Mốt đƣợc chấp nhận và theo đuổi bởi số ít trong khoảng thời gian ngắn. Thời trang thay đổi diện mạo, sôi động nhờ có các xu hƣớng mốt qua từng mùa, từng năm.
Thời trang gắn liền với văn hóa, xã hội, mang đậm bản sắc dân tộc và mang dấu ấn cá nhân. Trong lịch sử thời trang, mỗi một quốc gia lại có quá tình phát triển và xu hƣớng thời trang khác nhau.