Phần mở đầu Trong phầ n này , chúng tôi nêu lên lý do lựa chọn đề tài , lịch sử nghiên cƣ́u, đố i tƣơ ̣ng nghiên cƣ́u , phạm vi nghiên cứu và các phƣơng pháp nghiên cƣ́u vấ n đề. Phần nội dung Phầ n này bao gồ m hai chƣơng Chƣơng 1: Kinh giáng bút củaĐức Thánh Trần Chƣơng 1 giới thiê ̣u mô ̣t cách tổ ng quan về hô ̣i Th iê ̣n đàn và kinh giáng bút; thố ng kê tấ t cả nhƣ̃ ng văn bản có giáng bút thác danh Đức Thánh Trầ n hiê ̣n đƣơ ̣c lƣu giƣ̃ ta ̣i Thƣ viê ̣n Viê ̣n nghiên cƣ́u Hán Nôm , tƣ̀ đó lâ ̣p ra bảng so sánh và rút ra kết luận về niên đại , kiể u văn tƣ̣ trong các tác phẩm giáng bút thác danh Đức Thánh Trần. Chƣơng 2: Hình tƣợng Đức Thánh Trần trong tâm thức dân gian Việt Nam qua kinh giáng bút Chƣơng 2 chúng tôi phân tích hình tƣợng Đức Thánh Trần trong tâm thƣ́c ngƣời dân Viê ̣t Nam ở hai khía cạnh làvị tƣớng tài ba của dân tộc vàvị thánh đế linh thiêng thông qua hai văn bản tiêu biể u là Trầ n triề u hiển thánh chính kinh sơ biên và Hưng Đạo chính kinh bảo lục. 5 z Phần kết luận Tổ ng kế t nhƣ̃ng vấ n đề đã đƣơ ̣c nêu trong chƣơng 1 và chƣơng 2.
Tài liệu tham khảo Phụ lục Phụ lục 1: Bảng thống kê những văn bản giáng bút hiện đƣợc lƣu giƣ̃ tại Thƣ viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Phụ lục 2: Bảng thống kê các Thiê ̣n đàn. Phụ lục 3: Phiên âm , dịch nghĩa Trầ n triề u hiển thánh chính kinh sơ biên và Hưng Đạo chính kinh bảo lục. 6 z CHƢƠNG 1 KINH GIÁNG BÚT THÁC DANH ĐỨC THÁNH TRẦN 1.
Kinh giáng bút với hiện tƣợng Đức Thánh Trần 1. Hội Thiện đàn và kinh giáng bút Năm 1858, thực dân Pháp xâm lƣợc Việt Nam, mọi quyền lực chính trị đều nằm trong tay ngƣời Pháp, vua quan phong kiến nhàNguyễn chỉ làbù nhìn. Thực dân Pháp thủ tiêu quyền tự do dân chủ, thẳng tay đàn áp mọi tƣ tƣởng và hoạt động yêu nƣớc của dân ta. Không những thế, chúng còn thi hành chính sách ngu dân, lập nhàtù nhiều hơn trƣờng học, tuyên truyền văn hóa thực dân vong bản nhằm thủ tiêu tinh thần yêu nƣớc của dân tộc Việt Nam.
Trƣớc sự đàn áp của thực dân Pháp, triều đình phong kiến nhàNguyễn đã ký hiệp ƣớc Harmand năm 1883 và Patenôtre năm 1884 đầu hàng Pháp, song nhiều phong trào chống thực dân Pháp vẫn diễn ra. Nhƣ phong trào Cần Vƣơng (1885-1896) do Hàm Nghi vàTôn Thất Thuyết phát động; Khởi nghĩa Ba Đình (1881-1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng; Khởi nghĩa Hƣơng Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng; Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883- 1892) của Nguyễn Thiện Thuật; Khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài đến năm 1913. Tuy nhiên, các phong trào này sau một thời gian hoạt động đều bị thực dân Pháp đàn áp. Các vị lãnh tụ bị bắt bớ cầm tùhoặc phải trốn tránh, lƣu vong ở nƣớc ngoài, nền chính trị Pháp đi vào thế ổn định, chuyển sang giai đoạn bóc lột trên quy môlớn.
Các Nho sĩ yêu nƣớc sử dụng phƣơng pháp đấu tranh mới, tổ chức các hội Thiện đàn trên cơ sở tôn giáo cósẵn nhƣ Đạo giáo, Phật giáo. Đây là phƣơng thức để các Nho sĩ tuyên truyền thơ ca yêu nƣớc, giáo dục quần chúng lòng yêu nƣớc thƣơng nòi, giữ gìn thuần phong mỹ tục, phân rõchính tàvànhất là thông qua đó làm dấy lên lòng căm thù giặc ngoại xâm trong tâm thức mỗi ngƣời dân Việt Nam. 7 z Trong bài viết Hội Hướng Thiện và Đền Ngọc Sơn của Tảo Trang, đăng trên Tạp chíHán Nôm số 4 (33) - 1997, ngƣời viế t đã đƣa ra khái niệm về Thiện đàn nhƣ sau: Một hoạt động cụ thể mang ý nghĩa tích cực của các Hội viên Hội hướng thiện là tham gia nhóm “công quá”. “Công” chỉ thành tích làm điều tốt, kể cả ý nghĩa và sự việc cụ thể.
“Quá” là những điều lỗi lầm, trái với “công”. “Công quá” có thể dịch gọn là “công và tội”. “Tăng công bớt tội”, “làm điều thiện tránh bỏ điều ác”, là mục đích của việc tu thân, công việc này của nhóm “công quá” trong Hội hướng thiện “được tiến hành với sự tin tưởng vào sự hỗ trợ chứng giám của thần linh”, tập hợp thành một nhóm gọi là “Thiện đàn” hay “Thiện đường”. Nhƣ vậy, cóthể thấy Thiện đàn là nơi thông qua niềm tin vào thần linh để tuyên truyền mọi ngƣời làm điều thiện, tránh điều ác, cũng nhƣ tuyên truyền yêu nƣớc.
Những lời huấn dụ của các vị Thánh, Thần, Tiên, Phật đƣợc những ngƣời đứng đầu Thiện đàn đem in ấn trở thành các bộ kinh và đƣợc gọi làkinh Giáng bút. Hội Thiện đàn có ở hầu hết các tỉnh đồng bằng châu thổ Bắc Bộ: Hà nh, Bắc Giang, Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Nội, Thái Bì Bình… Cơ sở in ấn của các Thiện đàn là các đền miếu, chùa chiền, từ vũ. Cơ sở in ấn sớm nhất là đền HàKhẩu, huyện Thọ Xƣơng, tỉnh HàNội. Các hội Thiện đàn có nhiều tên gọi nhƣ: Lạc đạo đàn, Chính tâm đàn, Hội thiện đồng, Khuyến thiện đàn, Bát tinh đàn, Thất diệu đàn, Phổ thiện đƣờng… Phƣơng thức hoạt động của các Thiện đàn là tổ chức các buổi tế lễ thần linh ở đền miếu, một ngƣời đƣợc chọn hầu đồng (đồng nhân), cầm kê, đặt mâm cát (hoặc mâm tro, mâm gạo) ở trƣớc mặt.
Khi thánh thần nhập vào, ngƣời cầm kêvạch trên mâm cát đó chữ gìthìhai bên tả hữu có ngƣời ghi lại 8 z và coi đó là lời thần mách bảo. Khi đã xong thì cho mang đi khắc in. Đó chính làkinh giáng bút. Diễn giải một cách cụ thể về công cụ, cách thức tiến hành giáng bút1 nhƣ sau: Đồng nhân là ngƣời ngồi đồng trùm khăn che kín mặt, trực tiếp cầm kê để thánh thần nhập vào giáng bút, yêu cầu đối với đồng nhân phải là ngƣời biết chữ.
Trong buổi cầu cơ còn có hai ngƣời hầu bút ngồi hai bên đồng nhân. Đó là thị độc (ngƣời nhìn vào đƣờng nét chữ in trên mâm gạo hoặc mâm cát do ngƣời cầm kêviết rồi đọc to); ngƣời hầu bút còn lại làthị tả sẽ nghe vàghi lại những câu, những chữ do ngƣời thị độc vừa đọc lên trên giấy. Cuối cùng là ngƣời chính tả chuyện soát lỗi chính tả, nếu thấy đúng thì sẽ viết lại và đƣa sang nhàcho thợ khắc in ngay, trƣờng hợp neeys chƣa thấy đúng thì ngƣời cầm kêsẽ gõnhẹ vào mâm gạo để xin thần giáng lại câu đó rồi mới đƣa cho thợ khắc in. Ở một số đàn trong buổi cầu cơ, ngoài những ngƣời nhƣ trên ra còn xuất hiện thêm hai đầu tử cầm hai đầu giá treo kê bút để ngƣời cầm kê không bị run tay khi thảo chữ.
Kêbút (乩笔) làdụng cụ để các đồng nhân cầm viết chữ lên trên mâm gạo (mâm cát) sau khi đã đƣợc nhập thần. Kêbút thƣờng đƣợc làm từ cành đào mọc ở phía Đông. Việc những buổi giáng bút thƣờng dùng cành đào mọc ở phía Đông làm kê bút là vì dân gian quan niệm rằng cây đào là loại cây đƣợc trồng trong các vƣờn tiên. Cho nên ngƣời ta coi việc sử dụng cành đào làm kê bút để giúp cho việc cầu tiên diễn ra thuận tiễn vàlinh ứng hơn.
Kê bút đa phần dài ba thƣớc, chu vi ba tấc, đầu đƣợc vót nhọn. Có kê bút đƣợc sơn son thếp vàng ở thân, phía cuối kê đƣợc đục một lỗi để luồn đầu dây qua cho hai đồng tử mỗi ngƣời cầm một đầu; cũng có kê bút ở đầu đẽo hình giống nhƣ mỏ con hạc cho nên cũng có lúc ngƣời ta gọi kêbút làhạc bút. 1 [72; 30, 31] 9 z Phía cuối của kê bút cũng có lỗ nhƣng là để luồn dây treo lên cột xàcủa nhà hoặc treo lên kêgiá. Kêbàn (乩盘) (mâm kê) làdụng cụ để đựng cát hoặc gạo để cho ngƣời cầm kêviết chữ lên, sau đó ngƣời thị độc đọc cho ngƣời thị tả chép lại.
Trƣớc khi cho gạo (cát) vào, mâm kê này thƣờng đƣợc phủ một lớp vải đỏ dƣới đáy. Khi bắt đầu cầu cơ, mâm kê này luôn đặt trƣớc một án thờ có khỏi hƣơng trầm nghi ngút. Kêgiá(乩架) làdụng cụ cóhình chữ Y đƣợc làm từ thân cây liễu dùng để treo kê bút, giúp ngƣời cầm kê đƣợc thoải mái viết chữ hơn. Song, chỉ có một số nơi dùng để kê giá.
Thông thƣờng những buổi cầu cơ giáng bút ở Việt Nam, kê giá thƣờng đƣợc thay bằng hai đồng tử giữ hai đầu dây, hoặc đầu dây buộc kêbút sẽ treo trực tiếp lên xànhà. Về cách tổ chức Thiện đàn1, GS Đào Duy Anh có ghi chép theo bản Thiên thu kim giám chân kinh của Hƣớng Lạc hợp thiện đƣờng phố PhùLiễn tỉnh Thái Nguyên đƣợc giáng bút năm 1911: Trƣớc hết là Quan Thánh Đế quân giáng thơ và cáo thị rằng: Hôm trƣớc ở cuộc họp quần chân tại hội Sùng Ninh thấy Trần đại vƣơng (Hƣng Đạo) dẫn Phạm trấn đàn (Ngũ Lão) đến xin giáng phúc cho đàn này, ta cùng Văn Lã nhị đế (Văn Xƣơng và Lã Động Tân) đề tâu (Ngọc hoàng) ở điện Thông Minh đƣợc châu phêsắc cho các vị âm tƣớng giáng cho một bộ kinh Thiên thu kim giám. Văn Xƣơng đế quân chỉ thị cách bày đàn: Phía trên hết chính giữa đàn đặt tôn vị Ngọc hoàng. Ngoài cửa cấm môn đặt hƣơng án thờ các vị thần ở điện Thông Minh vàcác bộ Tam cung phối theo.
1 [53;307-308] 10 z Bên tả ở ban trên thờ Trần Vƣơng (Hƣng Đạo), Đổng vƣơng (Phù Đổng thiên vƣơng), ban giữa thờ Tản Viên thần, Lýtôn thần (LýPhục Man); ban dƣới thờ Nhị thập bát tú. Bên hữu ở ban trên thờ Dao Trì Vƣơng Mẫu, ban giữa thờ Quan Âm bồtát và Vân Hƣơng thánh mẫu (Liễu Hạnh); ban dƣới thờ các công chúa (các nữ thần phụ theo Thánh mẫu) nƣớc Nam phối theo. Ngoài sân bày một hƣơng án để thờ các thần trung nghĩa âm dƣơng (trai gái). Kê bút thì dùng cành đào mọc ở phƣơng đông, dài 3 thƣớc, chu vi 3 tấc, đầu lấy 3 vuông sôvàng bọc lại, trên xuyên một lỗ lấy tơ ngũ sắc bện dây xâu cho qua đầu ra hai bên, mỗi bên tả hữu cho một tiểu đồng cầm đầu dây.
Ở dƣới bút đặt cái long kỷ cao ba thƣớc, trên kỷ đặt bàn gỗ đào bọc vải đỏ, duy trƣớc mặt chừa một lỗ nhỏ. Quan thánh đế cầm thanh long đao đứng hầu bên kê bút để nhận chữ (viết trên gạo hay cát để trên bàn gỗ đào). Văn Lã nhị đế đứng hầu tả hữu. Bên hữu cửa cấm môn Đổng vƣơng cầm gƣơm dài đứng hầu.