CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ DẠY HỌC THEO HƯỚNG LINH HOẠT 1.1 TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ DẠY HỌC THEO HƯỚNG LINH HOẠT: 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Thiết kế dạy học từ lâu đã trở thành một đề tài nghiên cứu phong phú và hấp dẫn đối với các nhà khoa học giáo dục và ngày càng phát hiện ra vai trò to lớn của việc dạy học trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục. Chính vì vậy, thiết kế dạy học là một phần quan trọng chương trình giáo dục hầu hết các nước trên thế giới Từ thế kỷ 17, J.Komenxki (John Ams Comenius, 1592 – 1670) là một nhà sư phạm Tiệp Khắc đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật và hiện tượng. Theo ông: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách,…. Hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”.
Đến đầu thế kỷ 18, Jean – Jacques Rousseau (1712 – 1778) là một nhà giáo dục người Pháp cho rằng: phải hướng học sinh tích cực tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo. Johann Heinrich Pestalozzi (1746 – 1827) đưa ra nguyên lý giáo dục cơ bản đó chính là sự thống nhất của khối óc, trái tim và bàn tay. Và đến thế kỷ 19 thì nhà sư phạm dân chủ người Nga Konstantin Dmitrievich Ushinskij (1824 – 1871) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo viên điều khiển, dẫn dắt học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức. Dạy học với quá trình sản xuất của xã hội chính là quan điểm của Paul C.
William Heard Kilpatrick (1871 – 1965), Cellestin Freinet (1896 – 1966), Maria Montessori (1870 – 1965) đã nhấn mạnh ảnh hưởng của học tập thông qua hoạt động thực hành, học tập thông qua hoạt 5 Luan van động giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa thực tiễn nên cần thiết phải tăng cường hoạt động thực hành nhất là trong qui trình đào tạo nghề. Đến thế kỷ 20, xuất hiện các nhà giáo dục hàng đầu thế giới như Paget, Spiro & Jehng, Jacobson & Coulon và những nhà giáo dục khác nghiên cứu về lý thuyết học tập theo nhận thức linh hoạt. Họ cho rằng học tập theo nhận thức linh hoạt đóng một vai trò quan trọng về học tập và phát triển con người mới trong xã hội giáo dục hiện đại. Trong các nghiên cứu đó, nổi bật nhất là nghiên cứu của Spiro & Jehng (1990), có sự ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục và được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Năm 2004, từ các chính sách và chiến lược phát triển “tiếp cận linh hoạt trong dạy học” đã được trường đại học Queensland xây dựng vào năm 2001, trường đại học Tasmania tiến hành áp dụng thí điểm và đánh giá mức độ tác động của hình thức học tập này với người học và người dạy tại các khoa: Nghệ thuật, Thương mại, Giáo dục, Y tế, Luật. Trong báo cáo tổng kết của John Bottomley and Jocelyn Calvert (2005) cũng khẳng định những lợi ích mà hình thức học tập linh hoạt mang lại. Từ kết quả tổng kết và rút kinh nghiệm của trường Đại học Tasmania, dạy học linh hoạt đã được trường đại học ở Úc, New Zealand xem xét và áp dụng.2 Các nghiên cứu trong nước: Ở nước ta, hình thức học tập linh hoạt cũng được thể hiện thông qua chương trình đào tạo từ xa, đào tạo không chính qui. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến chương trình đào tạo linh hoạt cũng được phổ biến như: nghiên cứu của Nguyễn Minh Đường (1993) về chương trình đào tạo theo mô – dun, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Châu (2005) chương trình đào tạo phân hoá, nghiên cứu của Võ Xuân Đàn (2006) chương trình đào tạo theo tín chỉ.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu về dạy học linh hoạt trong tổ chức dạy bộ môn. Bùi Văn Quân trong bài viết: Thiết kế nội dung học tập theo lí thuyết nhận thức linh hoạt –Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – Tạp chí Khoa học giáo dục, số 1 (10/2005).Trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất các yêu cầu để thiết kế 6 Luan van nội dung học tập và logic thực hiện. Đề xuất này định hướng cho việc thiết kế dạy học mang tính đa dạng, linh hoạt và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Năm 2009, Lý Thị Quỳnh Trang đã kế thừa và phát triển kết quả của Bùi Văn Quân để nghiên cứu thiết kế một số kỹ năng dựa trên lý thuyết nhận thức linh hoạt.
Trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất thiết kế mục tiêu dạy học và nội dung học tập. Trong đó, mục tiêu học tập mang tính ổn định và bao quát ba lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Còn nội dung học tập được thiết kế theo yêu cầu và logic phù hợp với nguyên tắc của lý thuyết nhận thức linh hoạt. Đề xuất của tác giả rất thiết thực phù hợp với giai đoạn kiến thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay.
TS Bùi Văn Hồng với luận văn tiến sĩ: Dạy học thực hành kỹ thuật theo hướng tiếp cận linh hoạt tại trường Đại học Sư Phạm kỹ Thuật Tp. Kết quả nghiên cứu là xác định các yếu tố biến đổi và linh hoạt trong việc xây dựng mô hình dạy học thực hành theo tiếp cận linh hoạt. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đều chưa đề cập đến việc vận dụng lý thuyết nhận thức linh hoạt trong việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế dạy học cũng như xác định và lựa chọn linh hoạt các yếu tố biến đổi của quá trình dạy học như: người học, người dạy, phương tiện dạy học. Và trong luận văn này sẽ nghiên cứu và trình bày vấn đế thiết kế dạy học theo hướng linh hoạt vào trong môn Cơ sở tạo mẫu.2 CÁC KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI: 1.1 Dạy học: Dạy học là quá trình truyền thụ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của thầy giáo cho học sinh.
Nội dung và phương pháp dạy học tuỳ thuộc vào mục đích giáo dục, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của xã hội, đặc điểm nhận thức và tâm lý của lứa tuổi học sinh, khả năng và điều kiện thực tế của cơ sở giảng dạy. Hiện nay, việc dạy học còn bao gồm cả việc góp phần hình thành phẩm chất của người công dân trong xã hội mới. Dạy học hiện nay là phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh để học sinh chủ động tìm và nắm kiến thức. Dạy học là truyền lại những kiến thức, kinh nghiệm, đưa đến những thông tin khoa học cho người khác tiếp thu một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm mục 7 Luan van đích tự nâng cao trình độ văn hoá, năng lực trí tuệ và kỹ năng thực hành trong đời sống thực tế.[6] Dạy học là một hoạt động diễn ra trên hai tuyến song hành giữa người dạy và người học.
Bởi vậy quá trình dạy – học chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa giáo viên và học sinh trên các khâu cơ bản nhất là mục tiêu, nội dung, phương pháp, hay nói cách khác là khi có sự hợp tác ăn ý giữa người dạy và người học [6] 1.2 Linh hoạt: Theo từ điển Learner’s Dictionary [20], linh hoạt có nghĩa là sẳn sàng thay đổi. Theo từ điển Dictionary online [18], linh hoạt có nghĩa là dễ thay đổi hoặc đáp ứng. Theo từ điển Webster’s New Collegiate online, linh hoạt là khả năng sẵn sàng đáp ứng với những thay đổi hoặc nhu cầu mới. [21] Theo từ điển Tiếng Việt, linh hoạt có nghĩa là nhanh nhạy trong việc xử trí, ứng phó phù hợp với tình hình thực tế, không cứng nhắc vào một nguyên tắc.
Như vậy, theo những từ điển trên thì thuật ngữ linh hoạt có nghĩa là sự dễ dàng và sẳn sàng thay đổi nhằm đáp ứng cho nhu cầu, điều kiện hay hoàn cảnh thực tế. Từ những phân tích trên, linh hoạt trong đề tài này được hiểu như là sự dễ dàng và sẳn sàng thay đổi của một trong các yếu tố quá trình dạy học nhằm đáp ứng được sự biến đổi của nhu cầu, điều kiện hay hoàn cảnh tác động.3 Thiết kế : Thiết kế là lập bản dự án kế hoạch xây dựng một công trình, sản xuất một thiết bị, sản phẩm công nghiệp. Thiết kế bao gồm công việc lập các tài liệu, các thông số kĩ thuật, các bản tính toán, các bản vẽ, các mô hình… , làm căn cứ để tiến hành thi công, gia công sản phẩm. [7] Trong dạy học, thiết kế là soạn thảo văn bản nêu lên qui trình hoạt động dạy học hay chương trình qui định nội dung kiến thức và kỹ năng cần thiết phải dạy học.4 Thiết kế dạy học: Thiết kế dạy học là soạn thảo một văn bản nêu lên qui trình tiến hành bài giảng về một vấn đề cụ thể để thực hiện trong thời gian từ một đến hai tiết lên lớp.
Trong bản thiết kế trước hết cần nêu rõ mục đích, nội dung, yêu cầu cần đạt được. Tiếp theo là phân bố từng phần nội dung và thời gian tương ứng để thực hiện. Để truyền đạt mỗi phần nội dung cần nêu rõ hành động phải làm theo các phương pháp nào (diễn giải, thuyết trình, đàm thoại, chứng minh, so sánh, gợi nhớ, đặt câu hỏi….), dùng phương tiện hỗ trợ gì (hình vẽ, sơ đồ, bảng biểu, phim ảnh, thiết bị kỹ thuật, phấn bảng, máy tính, máy chiếu,…) rồi kết thúc phần đó như thế nào (tóm tắt, tổng kết, khái hoá, mở ra vấn đề mới…) và cuối cùng là chuyển tiếp sang phần nội dung sau như thế nào.[7] Trong thiết kế dạy học cần chỉ ra phần trọng tâm, chỉ rõ các phương pháp, phương tiện ưu tiên dùng trước và phương tiện thay thế, bổ sung và những yêu cầu cần chốt lại trong bài giảng.5 Thiết kế dạy học theo hướng linh hoạt: Từ những phân tích, kết hợp với các khái niệm trình bày ở các mục trên, thiết kế dạy học theo hướng linh hoạt trong đề tài này được hiểu là “xác định các phương án trình bày khác nhau với mỗi vấn đề học tập giúp người học có điều kiện kiến tạo tri thức theo tình huống”.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ DẠY HỌC THEO HƯỚNG LINH HOẠT: 1.1 Thuyết kiến tạo (Contructivism) : Học là tự kiến tạo tri thức [10] Thuyết kiến tạo được phát triển từ khoảng những năm 60 của thế kỉ XX, được đặc biệt chú ý từ cuối thế kỉ XX. Jeans Piaget, Watzlawick, Hans Aebli, Maria Motessori, Lew S.
Wygotzky là những đại diện của thuyết kiến tạo .