Chương 1: Cơ sở lý luận 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề : Nhu cầu phát triển không ngừng của xã hội loài người trong mọi lĩnh vực khiến cho vấn đề sáng tạo ngày nay đã trở thành mối quan tâm chung của nhân loại. Sáng tạo từ trước đến nay luôn bị bao phủ bởi tấm màn huyền bí xa vời với người bình thường, dường như nó được gắn với những “thiên tài”, những tài năng trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật. Nói đến sáng tạo là người ta nghĩ ngay đến các sản phẩm, các tác phẩm kiệt xuất của các danh nhân, các học giả, các nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ như: Issac Newton, Albert Einstein, Leona de Vinci, Betthoven.
Nguồn tư liệu duy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo là các hồi ký, tiểu sử, các tác phẩm văn học mang tính tự thuật của các danh nhân, do đó đã làm cho phạm vi nghiên cứu của vấn đề bị thu hẹp, số liệu nghiên cứu cũng bị hạn chế. Chính vì vậy mà vấn đề bản chất và quy luật hoạt động của sáng tạo mới chỉ được họ mô tả, giải thích sơ bộ mà chưa tập trung đi sâu nghiên cứu. Trong khi đó chúng ta đều biết rằng, khả năng sáng tạo hay hoạt động sáng tạo không chỉ có ở những “thiên tài”, mà trong mỗi cá nhân đều có những khả năng sáng tạo nhất định. Vào giữa thế kỷ XIX các nhà xã hội học đã có những đóng góp đáng kể đầu tiên trong việc giải quyết vấn đề sáng tạo.
Họ cho rằng, bản chất của tính tích cực sáng tạo là ở hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích thích khả năng sáng tạo. Quan điểm này về sau đã được các nhà tâm lý học Mácxit ủng hộ và phát triển. Thế kỷ XIX là một thời điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sự phát triển nhân loại, cùng với những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học nhiều ngành khoa học ra đời, nhiều thành tựu khoa học được công bố, lĩnh z 13 vực sáng tạo cũng bắt đầu được quan tâm nghiên cứu như là một hiện tượng phổ biến trong xã hội. Dưới đây là một vài nét sơ lược tình hình nghiên cứu vấn đề sáng tạo ở một số nước trên thế giới.Việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo trên thế giới 1.
Nước Mỹ với vấn đề sáng tạo Có thể nói, cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc nghiên cứu sáng tạo có cường độ mạnh nhất ở Mỹ. Sở dĩ như vậy là vì Mỹ vốn là nước có nền khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh nhất thế giới, các nhà nghiên cứu ở đây có những điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất và xã hội để tiến hành các công trình nghiên cứu. Mặt khác, các nhà tâm lý học Mỹ đã tuyên bố rằng, đối với nước Mỹ, việc vạch ra và bồi dưỡng những nhân cách sáng tạo là một vấn đề có ý nghĩa quốc gia chung, bởi vì “hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến sự tiến bộ khoa học mà còn đến toàn xã hội nói chung, và dân tộc nào biết nhận ra được những nhân cách sáng tạo một cách tốt nhất và biết tạo ra được một cách tốt nhất cho họ những điều kiện thuận lợi nhất thì dân tộc đó sẽ có được những ưu thế lớn lao” (Taylor C.W 1964) (dẫn theo [50, 16]) Vào đầu những năm 1920, Lewis Terman tiến hành một công trình nghiên cứu về sáng tạo trên những học sinh giỏi có chỉ số IQ từ 140 trở lên. Công trình này đã được đánh giá rất cao, sau đó ông còn nghiên cứu nhiều công trình khác cũng về lĩnh vực sáng tạo và đã rút ra nhiều điều về các vấn đề chung của sáng tạo như: nhân cách sáng tạo, sản phẩm sáng tạo.Osborn đã cho xuất bản cuốn sách đầu tiên về sáng tạo.
Ông vốn không phải là nhà tâm lý học mà là một nhà kinh doanh, nhưng ông lại rất quan tâm tới lĩnh vực sáng tạo, đặc biệt là tư duy sáng tạo. Tiếp sau đó z 14 ông đã cho ra đời bốn cuốn sách về lĩnh vực này và đã được tái bản nhiều lần. Một trong những cuốn sách đó là cuốn sách giáo khoa “ứng dụng của ý tưởng khoáng đạt” đã được sử dụng tại 300 trường đại học và cao đẳng.Osborn đã dành nhiều tâm huyết để hỗ trợ xu hướng sáng tạo trong giáo dục, theo ông, thành công của ông trong lĩnh vực kinh doanh là nhờ việc ông phát minh ra phương pháp tạo cho mình nghĩ ra nhiều ý tưởng. Phương pháp đó có tên là phương pháp Tập kích não - Brainstorming (phương pháp này dựa trên cơ sở của hoạt động sáng tạo).
Phương pháp này cho kết quả tốt nhất khi xem xét các vấn đề tổ chức như: tìm ứng dụng mới cho sản phẩm, tìm dạng quảng cáo mới. và khi giải quyết các vấn đề sáng chế không phức tạp lắm. ở Mỹ, sự hâm mộ phương pháp Tập kích não sau 10 năm đã được thay thế bằng Xinetic là dạng phát triển của nó. Việc nghiên cứu về Xinetic bắt đầu từ năm 1944 do William Gardon - nhà nghiên cứu sáng tạo người Mỹ - khởi xướng.
Khi nghiên cứu một nhóm sáng chế ông đã nhận thấy rằng năng suất của họ rất cao, phân tích băng ghi âm thảo luận của nhóm này ông rút ra kết luận là thành công của nhóm phụ thuộc vào phong cách làm việc. Trên cơ sở nghiên cứu về tư duy sáng tạo, về tâm lý học và thực tiễn sáng chế, ông đã đưa ra những luận điểm chung về việc kích thích tư duy sáng tạo. Từ năm 1953-1959 ông đã đề xuất phương pháp sáng tạo với cái tên Xinetic (tiếng Hy Lạp nghĩa là kết hợp các yếu tố khác chủng loại). Các nhóm Xinetic là các nhóm bao gồm những người thuộc những ngành nghề khác nhau, gặp nhau với mục đích giải quyết những vấn đề sáng tạo bằng con đường luyện trí tưởng tượng và kết hợp với những yếu tố không thể dung hòa.
Xinetic được xem là phương pháp mạnh nhất trong lĩnh vực sáng chế. Tuy nhiên, khả năng của nó bị hạn chế do nó tách rời khỏi sự nghiên cứu các quy luật phát triển khách quan. Quá trình giải quyết vấn đề có thể điều khiển z 15 được nhưng kết quả phải phụ thuộc nhiều vào sự thông thái, kinh nghiệm và tài năng của người chỉ đạo, vì vậy, sai lầm của người chỉ đạo có thể đưa nhóm vào tình thế vô định. Từ những năm 50 của thế kỷ này, các nhà tâm lý học Mỹ bắt đầu nghiên cứu vấn đề sáng tạo một cách có hệ thống.
Người có công lớn là J.Guilford - nguyên là giáo sư Trường Đại học tổng hợp ở miền Nam California, ông được đề cử là Chủ tịch Hội Tâm lý học Mỹ năm 1950. Trong bài phát biểu tại buổi lễ nhậm chức ông đã giành nhiều thời gian để nói về vấn đề sáng tạo. Sau khi chỉ ra sự thờ ơ của các nhà tâm lý học trong việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo lúc bấy giờ ông nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo và khuyến khích các nhà tâm lý học nghiên cứu trên cơ sở vấn đề ông đặt ra là: Có thể nhận biết khả năng sáng tạo của con người không? Nếu có thì bằng con đường nào? Có thể phát triển tiềm năng sáng tạo của con người không? Năm 1967, Guilford đã đưa ra mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ 120 thành tố, trong đó trí tuệ con người được phân định thành hai phần cơ bản là: trí thông minh (intellegence) hiểu theo nghĩa truyền thống và tính sáng tạo (creativity). Quan điểm này đã mở đường cho các nghiên cứu phát huy tính sáng tạo của con người trong tâm lý học, giáo dục học của Mỹ.
Tâm lý học, giáo dục học đã không dừng ở việc nghiên cứu, chẩn đoán và bồi dưỡng trí tuệ nói chung, mà đã chẩn đoán và phát triển các thành tố tạo nên trí tuệ là trí thông minh và tính sáng tạo. Từ đây, tính sáng tạo đã được các nhà tâm lý học Mỹ thừa nhận là có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. “Sự sáng tạo đặc biệt quan trọng trong điều kiện đời sống xã hội có những thay đổi mạnh mẽ, vì nó cho phép khắc phục được những khó khăn đủ mọi loại, đề ra được những mục tiêu bất ngờ, đảm bảo được sự tự do lựa z 16 chọn cao, và do đó sự tự do hành động cao” (Henle M, 1963). (dẫn theo [50, 16]) Từ đó việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo phát triển rất nhanh, có nhiều nhà tâm lý học tiến hành nghiên cứu vấn đề này: Holland năm 1959, May 1961, Mac Kinnon năm 1962, Yamamoto năm 1963, Torance năm 1965.
Cùng thời gian đó cũng đã xuất hiện nhiều nhóm nghiên cứu với số lượng thành viên ngày càng tăng nhanh, chỉ tính riêng trong lĩnh vực tâm lý - giáo dục đã có tới 14 nhóm nghiên cứu: nhóm Ripple và May năm 1962; nhóm của Klausmeier và Wiersma năm 1965; nhóm của Getzel và Jackson năm 1962; nhóm của Klausmeier, Harris và Ethnathos năm 1962. Nội dung của các công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo; sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo; bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, thuộc tính của nhân cách sáng tạo; vấn đề phát triển năng lực sáng tạo; vấn đề kích thích hoạt động sáng tạo. Nghiên cứu vấn đề sáng tạo ở Liên Xô và các nước Đông Âu Năm 1946 ở Liên Xô , G.Altsuler đã xây dựng một phương pháp giải các bài toán sáng chế theo nguyên tắc mới thay thế phương pháp thử và sai. Phương pháp này có tên là Lý thuyết giải các bài toán sáng chế.
ý tưởng căn bản của nó là: Các hệ kỹ thuật hình thành và phát triển không ngẫu nhiên mà theo những định luật nhất định. Ta có thể nhận biết những định luật này và sử dụng chúng một cách có ý thức - tránh được số lượng lớn các phép thử vô ích để giải các bài toán sáng chế. z 17 Lý thuyết giải các bài toán sáng chế được các nhà triết học nhìn nhận như một bộ môn khoa học xuất hiện theo quy luật và gắn liền khoa học kỹ thuật. Bộ môn khoa học này được giảng dạy trong các trường đại học tổng hợp sáng tạo khoa học - kỹ thuật quần chúng, các trường đại học nhân dân, các trường học sáng chế và đã đem lại hiệu quả rất cao.