Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Kiều Duyên, chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 9.10), thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Danh Ngà và PGS. Lê Phước Minh (Hà Nội, 2023). Đề tài nghiên cứu mang tên: "Cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam đã có sự mở rộng về quy mô và đa dạng hóa loại hình đào tạo. Tuy nhiên, cơ chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt trong việc giao quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình. Nhà nước đã từng bước ban hành và điều chỉnh hành lang pháp lý thông qua Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP. Dù vậy, việc thực thi cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn gặp nhiều vướng mắc về tạo lập nguồn thu, cân đối thu chi và bảo đảm chất lượng đào tạo.
Khác với các cơ sở giáo dục đại học thuộc khối ngành kinh tế, luật (nơi có khả năng tự bảo đảm trên 50% mức chi từ các nguồn thu dịch vụ sự nghiệp), các cơ sở đào tạo khối văn hóa, nghệ thuật và thể dục thể thao (NT-TDTT) chịu sự ràng buộc khắt khe về quy mô tuyển sinh nhỏ, chi phí đào tạo thực hành đặc thù rất cao và nguồn thu ngoài ngân sách rất thấp. Ngân sách nhà nước (NSNN) cấp cho các cơ sở giáo dục đại học công lập nói chung thường dưới 50% (một số trường chỉ đạt từ 10% đến 20%), trong khi khả năng khai thác nguồn thu từ học phí và dịch vụ của khối ngành năng khiếu lại rất hạn chế. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự chủ đại học, nhưng chưa có công trình nào đi sâu đánh giá toàn diện và hệ thống thực trạng vận hành cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đào tạo nghệ thuật và thể dục thể thao công lập kể từ khi thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP đến nay. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới giải quyết.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và bổ sung, cập nhật những luận điểm mới về cơ sở lý luận của cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học, áp dụng cho các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập.
- Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 (sau 5 năm thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP) đến năm 2019.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập với tầm nhìn đến năm 2025.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập ở nước ta trong thời gian qua diễn ra như thế nào? Những thuận lợi, khó khăn và hiệu quả thực hiện cơ chế này được đánh giá ra sao?
- Câu hỏi 2: Để thúc đẩy hoạt động tạo nguồn thu và nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính tại các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập, cần đổi mới cơ chế tự chủ tài chính như thế nào?
- Câu hỏi 3: Điều kiện để thực hiện hiệu quả cơ chế tự chủ tài chính của các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập là gì?
Luận án xác định 3 nhóm nhân tố tác động tới cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở đào tạo này: (1) Mục tiêu phát triển giáo dục đại học; (2) Cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước và khung khổ pháp luật đi kèm; (3) Năng lực quản trị và quy chế tài chính nội bộ do từng trường xây dựng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tự chủ tài chính trong các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Các yếu tố cấu thành cơ chế tự chủ tài chính; tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện; tác động của cơ chế tự chủ tài chính tới quản lý, sử dụng nguồn thu, chi phí và trách nhiệm giải trình của đơn vị đào tạo.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn 2011–2019 (giai đoạn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP và bước đầu triển khai Nghị định 16/2015/NĐ-CP), đồng thời cập nhật các quy định mới của Nghị định 60/2021/NĐ-CP.
- Phạm vi không gian: Khảo sát và nghiên cứu thực nghiệm tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật - thể dục thể thao trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý trên địa bàn 3 trung tâm lớn: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh (nghiên cứu sâu 15/21 cơ sở đào tạo).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm chủ đề trọng tâm:
| Nhóm chủ đề |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung học thuật chính được đúc kết |
| Nội hàm khái niệm tự chủ đại học và tự chủ tài chính |
Barrow & Milburn (1990); G. Neave (1988); Ashby & Anderson (1966); Berdahl (1990); Frazer (1997); Cazenave (1992); Dill (2001); Jongbloed (2000); Volkwein & Malik (1997); Yeager và cộng sự (2001). |
Phân tích nguồn gốc tự chủ (autos và nomos); phân biệt tự chủ học thuật, tự chủ tổ chức/thể chế và tự chủ tài chính; phân biệt quan điểm tự chủ tài nguyên (quản lý quỹ tiền tệ và phi tiền tệ) với tự chủ thực thể (tư cách pháp nhân). |
| Chuyển đổi cơ chế tự chủ trong kinh tế thị trường |
Hauptman (2006); Altbach (2007); Kmineva (2009); Levin, Jeong & Ou (2009); David W. Chapman & Ann E. Austin (2002); Michael & Kretovics (2005). |
Nhận diện áp lực thích ứng của trường đại học trước kinh tế thị trường; nêu rõ 10 thách thức tài chính trong thế kỷ 21 đối với giáo dục bậc cao. |
| So sánh chính sách tự chủ tài chính quốc tế |
Mitsopoulos & Pelagidis (2008); Su Yan Pan (2009); Nyewusira (2013); Liudvika Leisyte; Laura de Dominicis, Pérez & Fernández-Zubieta (2011); OECD (2003); CABE India (2005); Vuokko Kohtamäki (2009). |
So sánh chính sách tự chủ tài chính giữa các nước châu Âu (Đức, Bỉ, Pháp, Anh, Hà Lan, Phần Lan) và các nước đang phát triển (Trung Quốc, Nigeria, Ấn Độ), chỉ ra xu hướng đa dạng hóa nguồn tài chính. |
| Mối quan hệ giữa Đại học và Nhà nước |
Kogan & Marton (2000); Slaughter & Leslie (1997); Hsu Yu-Ling Flora (2009); Frank Ziegele (1998); Guy Neave (1998); Burton Clark (1993); Bikas C. Sanyal (1995); Van Vught (1994, 1997); John Fielden (2011); Arthur Hauptman (2007). |
Phân tích các mô hình đại học (Napoleon, Humboldt, mô hình Anh, mô hình Mỹ); chuyển đổi quản lý từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra; cảnh báo hiện tượng "tự chủ giả hiệu" nếu thiếu cơ chế ngân sách giao trọn gói; 4 mô hình tài chính GDĐH. |
| Nghiên cứu tài chính giáo dục đại học tại Việt Nam |
Lâm Quang Thiệp (2005, 2008); Đặng Văn Du (2004); Lê Phước Minh (2005); Bùi Tiến Hanh (2006); Nguyễn Anh Thái (2008); Nguyễn Thu Hương (2011); Phùng Xuân Nhạ và cộng sự (2012); Nguyễn Duy Tạo (2000); Trần Thị Thu Hà (1993). |
Phân tích cơ chế ngân sách, xã hội hóa giáo dục, bất cập của việc khống chế trần học phí đối với các trường tự chủ, đề xuất cơ chế Nhà nước đặt hàng đối với các ngành đặc thù khó xã hội hóa (khoa học cơ bản, nghệ thuật, sư phạm). |
Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề tự chủ tài chính ở quy mô toàn hệ thống giáo dục đại học hoặc tập trung vào các trường khối kinh tế, kỹ thuật – nơi có điều kiện thuận lợi để thương mại hóa dịch vụ và huy động học phí cao. Chưa có công trình nào đánh giá thực trạng vận hành và tác động của cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập thuộc khối nghệ thuật và thể dục thể thao – những đơn vị mang tính đặc thù cao về quy trình đào tạo năng khiếu, tỷ lệ giảng viên/sinh viên thấp, đòi hỏi đầu tư trang thiết bị tập luyện chuyên sâu nhưng khả năng tăng nguồn thu sự nghiệp lại vô cùng hạn chế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các lý thuyết kinh tế và quản trị hiện đại làm nền tảng phân tích:
- Lý thuyết hệ thống (System Theory): Do Ludwig von Bertalanffy đề xướng năm 1940 (phát triển bởi Birnbaum 1988, Hölttä 1995). Thiết chế giáo dục đào tạo NT-TDTT được xem là một hệ thống mở tương tác với môi trường bên ngoài (nhà nước, thị trường, xã hội), tiếp nhận đầu vào (ngân sách, nhân lực, cơ sở vật chất), xử lý qua hoạt động đào tạo và tạo ra đầu ra (nhân lực văn hóa nghệ thuật, vận động viên).
- Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory): Cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính của nhà trường phải thích ứng linh hoạt với những thay đổi và bất định của môi trường bên ngoài.
- Lý thuyết chủ thể - đại diện (Principal-Agent Theory): Phân tích mối quan hệ ủy thác giữa Nhà nước (thân chủ/chủ thể cấp kinh phí) và Ban giám hiệu các trường đại học (đại diện quản lý tài sản, điều hành đơn vị), xử lý vấn đề bất đối xứng thông tin và xung đột mục tiêu.
- Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (Resource Dependence Theory - Pfeffer & Salancik, 1978): Làm rõ hành vi của cơ sở đào tạo bị chi phối bởi các tổ chức bên ngoài cung cấp nguồn lực tài chính (Nhà nước, người học, doanh nghiệp) và nỗ lực của nhà trường nhằm đa dạng hóa nguồn tài chính để giảm thiểu phụ thuộc.
- Mô hình tài chính giáo dục đại học đa chiều (Arthur Hauptman, 2007; Trần Việt Hùng, 2013): Khung phân loại gồm 4 mô hình: (1) GDĐH công lập miễn phí hoặc học phí thấp; (2) Chi phí đại học hoàn trả sau tốt nghiệp qua thuế/vay tín dụng (như HECS của Úc); (3) Tăng học phí kết hợp hỗ trợ sinh viên khó khăn; (4) Mở rộng đại học tư thục (phi lợi nhuận và vì lợi nhuận). Luận án nhận định Việt Nam đang áp dụng mô hình đa chiều kết hợp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng mô tả:
- Phương pháp phân tích tài chính: Phân tích cơ cấu nguồn thu, nhiệm vụ chi, mức độ tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và đầu tư phát triển theo quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP và Nghị định 60/2021/NĐ-CP.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi:
- Mẫu phiếu số 01 (Khảo sát cán bộ lãnh đạo, quản lý): Gửi tới 21 cơ sở đào tạo thuộc Bộ VHTT&DL. Mỗi đơn vị khảo sát 04 vị trí gồm Hiệu trưởng, 01 Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, 01 cán bộ quản lý tài chính và 01 cán bộ văn phòng. Tổng số: 84 phiếu (21 đơn vị × 4 người). Nội dung: Nhận thức về tự chủ tài chính; năng lực kiểm soát và giải quyết công việc; xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ (CTNB); đào tạo bồi dưỡng; đánh giá tác động của cơ chế tự chủ tài chính.
- Mẫu phiếu số 02 (Khảo sát viên chức và người lao động): Gửi tới 21 cơ sở đào tạo thuộc Bộ VHTT&DL. Mỗi đơn vị khảo sát 10 người. Tổng số: 210 phiếu (21 đơn vị × 10 người). Nội dung: Nhận thức về tự chủ; mức độ minh bạch thông tin của lãnh đạo; tham gia xây dựng quy chế CTNB; đánh giá tác động tới thu nhập và đời sống.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Thực hiện với các chuyên gia, nhà quản lý tài chính, giảng viên và cán bộ tại các trường NT-TDTT để làm rõ các bất cập thực tế trong cơ chế phân bổ kinh phí và quản lý tài sản công.
- Phương pháp thống kê và tổng hợp số liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý các báo cáo quyết toán tài chính, niên giám thống kê, báo cáo dự toán ngân sách giai đoạn 2011–2019 từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính và các trường thành viên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền tự chủ đại học và cơ chế tự chủ tài chính. Tác giả chỉ ra 4 trường phái tiếp cận chính trên thế giới: làm rõ nội hàm khái niệm (tự do học thuật, tự chủ thể chế, tự chủ tài nguyên và tự chủ thực thể); quá trình chuyển đổi của trường đại học trong kinh tế thị trường; nghiên cứu so sánh quốc tế về mô hình phân bổ ngân sách; và quan hệ giữa Nhà nước với cơ sở giáo dục đại học.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đã phân tích cơ chế phân cấp quản lý ngân sách (Trần Thị Thu Hà, Đặng Văn Du, Lê Phước Minh, Bùi Tiến Hanh, Nguyễn Anh Thái) và chính sách học phí (Nguyễn Thu Hương, Phùng Xuân Nhạ). Tác giả xác lập luận điểm rằng các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào các trường đại học tổng hợp hoặc khối trường kinh tế, chưa có nghiên cứu độc lập nào đánh giá một cách toàn diện về cơ chế tự chủ tài chính đối với hệ thống đào tạo văn hóa, nghệ thuật và thể dục thể thao công lập – nhóm ngành có tính chất đào tạo cá thể hóa cao và khó khăn trong việc tự cân đối thu chi.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Chương này làm rõ khái niệm, nội dung và nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) ngành năng khiếu. Đơn vị đào tạo NT-TDTT có các đặc điểm đặc thù: quy mô lớp học nhỏ (đặc biệt các môn nghệ thuật biểu diễn 1 thầy - 1 trò), thời gian đào tạo kéo dài, chi phí trang thiết bị, nhạc cụ, sân bãi tập luyện rất lớn và tiêu chuẩn thể lực, dinh dưỡng đặc thù.
Tác giả xác lập 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính:
- Tính đồng bộ và phù hợp của khung khổ pháp lý đối với đặc thù ngành.
- Mức độ tự chủ trong việc tạo lập và đa dạng hóa nguồn thu.
- Quyền tự chủ trong phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính và xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ.
- Mức độ tự chủ trong quản lý, khai thác và sử dụng tài sản công, đất đai.
- Mức độ nâng cao thu nhập và bảo đảm quyền lợi cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, huấn luyện viên.
- Tính minh bạch và hiệu lực của cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình xã hội.
Chương 2 cũng phân tích kinh nghiệm quốc tế về tài chính đại học tại các nước châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ ra bài học về việc Nhà nước cần duy trì tài trợ ổn định thông qua hình thức ngân sách giao trọn gói hoặc đặt hàng dịch vụ công có tính đến chi phí đặc thù cho các ngành năng khiếu nghệ thuật và thể thao.
Chương 3: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập ở Việt Nam
Chương 3 trình bày bức tranh thực trạng tổ chức và thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý và các đơn vị do địa phương quản lý.
Căn cứ vào danh mục bảng biểu và kết quả phân tích số liệu thực nghiệm:
| Số hiệu bảng |
Tên bảng số liệu trong văn bản luận án |
Nội dung khái quát dữ liệu phản ánh |
| Bảng 3.1 |
Số lượng các trường văn hoá nghệ thuật cả nước |
Thống kê mạng lưới các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật trên toàn quốc. |
| Bảng 3.2 |
Báo cáo tình hình thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập năm 2018 |
Đánh giá mức độ tự chủ tài chính theo phân loại ĐVSNCL (tự bảo đảm một phần chi thường xuyên). |
| Bảng 3.3 |
Tổng hợp ngân sách giao tự chủ cho các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2019 |
Phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào kinh phí giao tự chủ từ NSNN của các trường. |
| Bảng 3.4 |
Tổng hợp bổ sung kinh phí hoạt động của các trường NT-TDTT năm 2019 |
Các khoản bổ sung dự toán ngoài định mức phục vụ các nhiệm vụ chuyên môn đặc thù. |
| Bảng 3.5 |
Kinh phí CTMTQG cấp cho các trường NT-TDTT của Bộ VHTT&DL |
Tình hình cấp và giải ngân kinh phí từ Chương trình mục tiêu quốc gia cho cơ sở vật chất, đào tạo. |
| Bảng 3.6 |
Tổng hợp nguồn thu của các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL năm 2019 |
Cơ cấu chi tiết giữa nguồn ngân sách cấp và nguồn thu sự nghiệp, học phí, dịch vụ. |
| Bảng 3.7 |
Tổng hợp nguồn thu của các trường NT-TDTT giai đoạn 2015-2019 |
Diễn biến cơ cấu nguồn thu trong 5 năm, cho thấy tỷ trọng nguồn thu ngoài ngân sách tăng chậm. |
| Bảng 3.8 |
Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo phụ cấp chức vụ (K1) và hệ số chức vụ |
Căn cứ tính toán phân phối thu nhập tăng thêm theo Quy chế chi tiêu nội bộ. |
| Bảng 3.9 |
Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo lương (K2) và hệ số lương |
Phương thức tính toán chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, giảng viên. |
| Bảng 3.10 |
Tổng hợp số liệu nộp NSNN của các trường NT-TDTT năm 2019 |
Phản ánh nghĩa vụ tài chính và các khoản nộp ngân sách của các đơn vị. |
Đánh giá kết quả điều tra xã hội học và thực trạng:
- Về nguồn thu: Nguồn thu ngoài ngân sách của các trường NT-TDTT chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn thu (phần lớn ngân sách nhà nước vẫn phải bảo đảm trên 70-80% mức chi thường xuyên). Mức trần học phí bị khống chế theo quy định chung không đủ bù đắp chi phí đào tạo thực tế vốn rất tốn kém của các ngành nghệ thuật biểu diễn, xiếc, múa, điêu khắc hay thể thao đỉnh cao.
- Về quản lý chi tiêu và quy chế CTNB: Các trường đã áp dụng hệ số K1 (phụ cấp chức vụ) và K2 (hệ số lương) để chi trả thu nhập tăng thêm từ nguồn kinh phí tiết kiệm được, tuy nhiên mức tăng thêm không đáng kể.
- Về quản lý tài sản công: Việc khai thác cơ sở vật chất (nhà hát, sân vận động, nhà thi đấu) để tạo nguồn thu liên doanh, liên kết còn gặp nhiều vướng mắc pháp lý về quản lý tài sản công, thủ tục phê duyệt đề án phức tạp.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo nghệ thuật và thể dục thể thao công lập
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện thực hiện nhằm đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đến năm 2025:
Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Đổi mới cơ chế học phí: Xây dựng khung học phí riêng cho khối ngành NT-TDTT theo hướng tính đúng, tính đủ các chi phí đào tạo trực tiếp; đồng thời áp dụng chính sách cấp bù học phí hoặc học bổng hỗ trợ đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống, độc hại, khó tuyển sinh.
- Đổi mới cơ chế phân bổ NSNN: Chuyển đổi căn bản từ phân bổ ngân sách theo dự toán hành chính/định biên sang cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công đào tạo năng khiếu gắn với chuẩn đầu ra và chất lượng thực tế.
- Áp dụng linh hoạt các quy định pháp luật: Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính theo tinh thần chuyển tiếp từ Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP sang thực hiện Nghị định 60/2021/NĐ-CP, cho phép các trường NT-TDTT tự chủ sử dụng các quỹ nội bộ, phát triển dịch vụ văn hóa thể thao.
- Đổi mới chính sách đối với người học: Xây dựng cơ chế ưu đãi về dinh dưỡng, trang phục, bảo hiểm, bồi dưỡng tài năng và hỗ trợ người học sau khi tốt nghiệp cống hiến cho các đoàn nghệ thuật, đội tuyển quốc gia.
- Nâng cao quyền tự chủ về tổ chức bộ máy và biên chế: Tăng thẩm quyền cho Hiệu trưởng và Hội đồng trường trong việc tuyển dụng chuyên gia, nghệ nhân, huấn luyện viên giỏi theo hợp đồng dịch vụ không phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế cứng.
Điều kiện thực hiện giải pháp:
- Các cơ quan chức năng (Bộ Tài chính, Bộ GDĐT, Bộ Nội vụ, Bộ VHTT&DL) cần nhận thức rõ chức năng quản lý nhà nước đối với ĐHCL khối năng khiếu.
- Chính phủ giao Bộ VHTT&DL nghiên cứu lộ trình giao quyền tự chủ phù hợp với từng nhóm trường, không áp đặt cào bằng mức tự chủ tài chính toàn phần cho các trường nghệ thuật đặc thù.
- Việc giao quyền tự chủ tài chính phải căn cứ trên năng lực quản lý, chất lượng đào tạo và tính đến yếu tố đặc thù ngành.
- Các trường cần xác định rõ mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn, tăng cường kiểm soát nội bộ và trách nhiệm giải trình xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án làm rõ bản chất của tự chủ tài chính và cơ chế tự chủ tài chính áp dụng riêng cho các cơ sở giáo dục đại học công lập khối ngành nghệ thuật và thể dục thể thao – một lĩnh vực mang tính dịch vụ công ích cao và khó xã hội hóa toàn diện.
- Xác lập hệ thống 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính trong các trường NT-TDTT, đồng thời bước đầu đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của cơ chế này.
- Bổ sung khung lý thuyết tiếp cận hệ thống và mô hình phân bổ nguồn lực dựa trên việc kết hợp lý thuyết phụ thuộc tài nguyên và lý thuyết chủ thể - đại diện trong quản trị tài chính giáo dục đặc thù.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về cơ cấu thu - chi, phân bổ NSNN và tình hình thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ (thông qua hệ số K1, K2) tại 15 đến 21 cơ sở đào tạo thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2011–2019.
- Đánh giá khách quan những bất cập của việc thực thi cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP khi áp dụng đồng loạt cho các trường đào tạo năng khiếu mà không tính đến chi phí đào tạo cá thể hóa và giới hạn tuyển sinh.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ chế Nhà nước đặt hàng đào tạo, định giá dịch vụ đào tạo NT-TDTT, đổi mới chính sách hỗ trợ người học và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc khai thác tài sản công phục vụ đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực nghiệm tập trung chủ yếu vào 15/21 cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên địa bàn 3 thành phố lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng); số liệu khảo sát tài chính dừng ở giai đoạn 2011–2019 (trước khi Nghị định 60/2021/NĐ-CP được triển khai sâu rộng trên thực tế).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi đánh giá tác động đối với các trường cao đẳng, trung cấp văn hóa nghệ thuật trực thuộc UBND các tỉnh, thành phố quản lý; nghiên cứu thực nghiệm việc triển khai áp dụng Nghị định 60/2021/NĐ-CP và cơ chế đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong giai đoạn sau năm 2021.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ VHTT&DL, Bộ GDĐT): Tham khảo cơ sở thực tiễn và các đề xuất để xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá đặt hàng đào tạo các ngành nghệ thuật biểu diễn và thể thao thành tích cao.
- Lãnh đạo và cán bộ quản lý tài chính các trường NT-TDTT: Tham khảo phương pháp xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ (hệ số K1, K2), phương thức khai thác hợp pháp cơ sở vật chất và quản trị nguồn thu dịch vụ sự nghiệp.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Quản lý kinh tế, Quản trị giáo dục: Kế thừa khung lý thuyết tiếp cận hệ thống, lý thuyết phụ thuộc tài nguyên và phương pháp thiết kế công cụ điều tra khảo sát về tự chủ tài chính đại học.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chính của luận án là gì?
Luận án nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính tại các trường nghệ thuật và thể dục thể thao công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, tập trung vào giai đoạn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP từ năm 2011 đến năm 2019.
2. Quy mô mẫu điều tra xã hội học của luận án được thiết kế như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng 2 mẫu phiếu điều tra gửi tới 21 cơ sở đào tạo thuộc Bộ VHTT&DL: Mẫu 01 khảo sát 84 cán bộ quản lý (4 người/trường gồm Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Trưởng phòng Tài chính, Trưởng phòng Văn phòng); Mẫu 02 khảo sát 210 viên chức, người lao động (10 người/trường).
3. Tác giả sử dụng các khung lý thuyết nào để phân tích cơ chế tự chủ tài chính?
Luận án vận dụng Lý thuyết hệ thống (System Theory của Bertalanffy), Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory), Lý thuyết chủ thể - đại diện (Principal-Agent Theory), Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (Resource Dependence Theory của Pfeffer & Salancik) và mô hình phát triển tài chính GDĐH đa chiều của Arthur Hauptman.
4. Vì sao các trường nghệ thuật, thể thao gặp khó khăn khi thực hiện tự chủ tài chính theo cơ chế chung?
Do đặc thù quy mô tuyển sinh nhỏ, đào tạo cá thể hóa (1 thầy - 1 trò), chi phí trang thiết bị, nhạc cụ, cơ sở tập luyện cao và nguồn thu ngoài NSNN rất thấp (NSNN vẫn phải bảo đảm phần lớn kinh phí chi thường xuyên), việc áp dụng trần học phí chung và yêu cầu tự bảo đảm chi thường xuyên gây áp lực lớn lên chất lượng đào tạo.
5. Luận án đề xuất giải pháp cốt lõi nào về cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước?
Chuyển đổi phương thức cấp phát ngân sách từ giao dự toán theo số lượng biên chế sang cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công có tính đúng, tính đủ các chi phí đặc thù của ngành đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Kiều Duyên đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ sở đào tạo nghệ thuật và thể dục thể thao công lập ở Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2011–2019 và kết quả điều tra thực nghiệm tại các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, công trình đã chỉ rõ những rào cản tài chính đặc thù của khối ngành năng khiếu. Các giải pháp đề xuất về đổi mới cơ chế học phí, chuyển sang phương thức Nhà nước đặt hàng dịch vụ công và áp dụng linh hoạt các nghị định của Chính phủ cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách tài chính giáo dục đại học tại Việt Nam.