chương 1 và cơ sở lý luận được trình bày ở chương 2, trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về quy trình nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Cụ thể, đối với quy trình nghiên cứu, phần này đề cập đến hai bước nghiên cứu chính đó là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Đối với mô hình nghiên cứu, phần này đưa ra được khung phân tích, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 4: Tổng quan thực trạng cơ chế tài chính trường đại học công lập Việt Nam Luận án tập trung đánh giá thực trạng cơ chế tài chính trường đại học công lập Việt Nam.
Từ đó, tác giả đánh giá một số nguyên nhân của những hạn chế về cơ chế tài chính. Ngoài ra, trong chương này, luận án cũng phác họa tổng quan hệ thống các trường đại học công lập Việt Nam bao gồm hai khía cạnh đó là lịch sử hình thành và phân loại trường đại học công lập tại Việt Nam. Chương 5: Kết quả nghiên cứu Dựa vào phương pháp nghiên cứu ở chương 3, trong chương này tác giả trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả và kết quả phân tích nghiên cứu mô hình hồi quy bội và kết quả kiểm định các giả thuyết, đưa ra các ý kiến thảo luận và nhận định theo quan điểm của tác giả đồng thời có đối chiếu với các kết quả nghiên cứu trước đây. Chương 6: Kết luận và đề xuất giải pháp Trong chương này, tác giả đúc rút lại những phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu ở chương 5.
Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐHCL tại Việt Nam bao gồm các chính sách về cơ chế tài z 10 chính và các chính sách khác có liên quan. Ngoài ra, những hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được đề cập ở phần này. z 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý luận về cơ chế tài chính các trường ĐHCL, bao gồm khái niệm cơ chế tài chính, cơ sở xây dựng cơ chế tài chính, phân loại cơ chế tài chính, các nội dung thu chi tài chính, các tính chất của cơ chế tài chính, mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo. Ngoài ra, cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo cũng được nêu ra ở phần này bao gồm các khái niệm về chất lượng đào tạo, thành phần chất lượng đào tạo và đo lường chất lượng đào tạo.
Một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cơ chế tài chính và chất lượng đào tạo của một học giả trên thế giới và ở Việt Nam cũng được điểm qua. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 2.1 Khái niệm cơ chế tài chính đại học công lập Khái niệm “cơ chế” thường được hiểu phổ biến là “cách thức vận hành một hệ thống để hướng đến các mục tiêu” (Morgan, 2005). Từ điển Bách khoa toàn thư tiếng Pháp cũng định nghĩa cơ chế là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”. Ở nước ta, thuật ngữ "cơ chế" được hiểu và sử dụng với nghĩa là những qui định về quản lý.
Tuy nhiên, cách hiểu đơn giản này dẫn tới việc tách rời cơ chế với con người. Trên thực tế và cùng với quá trình phát triển của thuật ngữ “cơ chế” thì “cơ chế” thường đi liền với chính sách, là tổng hoà các quan hệ chính sách, và “cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh. Cơ chế tài chính (Financial Mechanism) được tiếp cận dưới nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của Ezara Solomon (1963), cơ chế tài chính được định nghĩa là “việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó”.
Khái niệm cơ chế tài chính của Maheshwari (1985) cho rằng “cơ chế tài chính liên quan đến việc nâng cao và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính nhằm đạt được các mục tiêu z 12 của tổ chức”. Còn Richard (2008) định nghĩa “cơ chế tài chính là quá trình sử dụng nguồn vốn sẵn có mang lại lợi ích tốt nhất trong dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh”. Như vậy, cơ chế tài chính là tổng hòa các quy tắc, phương pháp, công cụ quản lý tài chính được quy định trong một hệ thống các văn bản pháp quy do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về chế độ quản lý, cách thức điều hành, cách thức vận hành hệ thống tài chính quốc gia, hoặc một ngành, một cấp, của một hoặc một số đối tượng cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Theo đó, có thể có các cơ chế tài chính quốc gia, cơ chế tài chính ngành, cơ chế tài chính đối với các đơn vị dự toán, cơ chế tài chính đối với các trường ĐHCL, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện, trường học… Theo Cronin (1992), các cơ chế tài chính khác nhau có những đặc điểm khác nhau.
Có các cơ chế quản lý chặt chẽ, có cơ chế quản lý lỏng lẻo; có cơ chế thắt chặt, có cơ chế nới lỏng; có cơ chế quản lý áp đặt toàn diện, tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh và quy định quản lý của cấp trên (từ chủ thể quản lý); có cơ chế quản lý coi trọng kết quả, tạo môi trường quản lý thông thoáng, trao quyền tự chủ cho các đơn vị dự toán, kích thích và khuyến khích tính chủ động sáng tạo của các đối tượng bị quản lý. Friedmen (1995) cho rằng, nội dung của cơ chế tài chính các trường đại học nói chung và các trường ĐHCL nói riêng cũng có những nét tương đồng như phải có sự cân đối giữa chi phí đầu vào và chi phí đầu ra, cũng chịu những tác động của các nhân tố thị trường như sự cạnh tranh về giá cả, cung cầu thị trường… Tuy nhiên, cơ chế tài chính trường ĐHCL khác với cơ chế tài chính trường đại học khác như bên cạnh mục tiêu kinh tế - tài chính thì các trường ĐHCL còn phục vụ mục tiêu xã hội. Do đó, các trường ĐHCL đối mặt với khó khăn để tiến tới sự tối ưu trong quản lý tài chính vì phải cân bằng giữa mục tiêu kinh tế - tài chính và mục tiêu xã hội. Hơn nữa, vì các trường ĐHCL do Nhà nước đầu tư về kinh phí, cơ sở vật chất và hoạt động của các trường đại học này chủ yếu từ nguồn tài chính nhà z 13 nước và những khoản đóng góp phi lợi nhuận, nên các trường ĐHCL phải đối mặt với hai rủi ro cơ bản là sự giới hạn về ngân sách và nhu cầu cao từ phía người học.
Từ những lập luận trên, khái niệm về cơ chế tài chính trường ĐHCL được định nghĩa như sau: Cơ chế tài chính trường đại học công lập là quá trình tác động của Nhà nước tới bộ máy quản trị trường đại học công lập thông qua tổng hòa các quy tắc, phương pháp, công cụ quản lý tài chính được quy định trong một hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước để thực hiện các chức năng cơ bản từ việc lập kế hoạch tài chính, tổ chức thực hiện, điều khiển và kiểm tra giám sát tài chính nhằm đạt được mục tiêu của Nhà nước đề ra.2 Cơ sở xây dựng cơ chế tài chính trường đại học công lập Trong nghiên cứu về cấu trúc tài chính của các trường đại học, Geuna (1992) cho rằng, hầu hết mọi cơ chế tài chính đều được xây dựng dựa trên cơ sở mục tiêu đào tạo, nghiên cứu và cung cấp dịch vụ của trường đại học, bối cảnh bên trong và bên ngoài trường đại học. Đồng quan điểm trên, Johnstone (2001) cho rằng, mục tiêu đào tạo là yếu tố cốt lõi đầu tiên được xem xét đầu tiên khi xây dựng cơ chế tài chính. Ngoài ra, theo Johnstone (2001), các yếu tố tác động đến mục tiêu đào tạo như nội lực của trường đại học, chính sách của nhà nước, nhu cầu của các bên liên quan, sự thay đổi của môi trường quốc tế, thông qua tác động đến mục tiêu đào tạo, đều có ảnh hưởng nhất định đến cơ chế tài chính. Bryan Cheung (2011), xem xét đến bối cảnh chính sách, chiến lược phát triển ngành giáo dục của quốc gia, đồng thời trên cơ sở phân tích đặc điểm cụ thể của từng trường để xác lập mục tiêu cho từng trường đại học, từ đó xây dựng cơ chế tài chính để hướng đến mục tiêu đó.
Như vậy nhìn chung, khi nghiên cứu về cơ sở hình thành cơ chế tài chính, các tác giả đều thống nhất 3 nhóm yếu tố sau đây: i) Mục tiêu đào tạo của trường đại học công lập Mỗi trường đại học đều có mục tiêu đào tạo riêng, được xác lập trên cơ sở đặc điểm của trường và phù hợp với mục tiêu giáo dục đào tạo chung của quốc gia. Các mục tiêu đào tạo, cùng với sứ mệnh và tầm nhìn của trường, thường được tuyên z 14 bố rõ trong chiến lược phát triển của trường đại học. Các mục tiêu giáo dục đào tạo thường có tính chất dài hạn, là định hướng cho việc xây dựng và triển khai các cơ chế, kế hoạch hoạt động, trong đó có cơ chế tài chính. Nhìn chung, mục tiêu giáo dục đào tạo có thể được điều chỉnh sau một thời kỳ nhất định để phù hợp và phản ánh những thay đổi của môi trường đào tạo bậc đại học.
Theo Geuna (1992), trong từng thời kỳ nhất định, trường đại học có thể thực hiện một trong các mục tiêu sau đây: - Mục tiêu ổn định: Đối với nhiều trường đại học đã có truyền thống lịch sử phát triển lâu dài, với chức năng và nhiệm vụ chính là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho một ngành hẹp, thường là những ngành phi lợi nhuận, thì mục tiêu ổn định có thể là ưu tiên hàng đầu. Ví dụ, ở một số địa phương, nhu cầu nhân lực trong các ngành công an, quân đội, văn hóa nghệ thuật, sư phạm có thể đạt đến giới hạn ổn định. Những trường này thực hiện hoạt động đào tạo phần lớn dựa trên cơ sở đặt hàng của cơ quan chủ quản, do đó việc duy trì quy mô và cơ cấu ổn định có thể mục tiêu phù hợp với trường trong những điều kiện nhất định.