Tổng quan nghiên cứu

Lạng Sơn sở hữu diện tích tự nhiên 8.320,76 km2 với dân số ghi nhận năm 2014 là 740.712 người, trong đó đồng bào dân tộc Nùng chiếm 43,86% và dân tộc Tày chiếm 35,92%. Tổng cộng hai cộng đồng này chiếm gần 80% cơ cấu dân cư toàn tỉnh. Tại Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn, cơ cấu sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học phản ánh rõ nét bản sắc địa phương với 61% sinh viên dân tộc Tày và 28% sinh viên dân tộc Nùng, tạo nên tỷ lệ người học bản địa lên tới 89%.

Tuy nhiên, trước sự phát triển của công nghệ và sự du nhập của các trào lưu âm nhạc hiện đại, các di sản diễn xướng dân gian như hát Sli của người Nùng và hát Lượn của người Tày đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy phần lớn sinh viên bản địa không biết hát hoặc rất thiếu tự tin khi thực hiện các làn điệu truyền thống do thiếu tài liệu chuẩn hóa, thiếu môi trường thực hành và áp lực từ chương trình chính khóa.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của tác giả Nguyễn Thu Hà, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Hoài Thu tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết này. Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm đồng bộ nhằm đưa hát Sli và hát Lượn vào giờ ngoại khóa cho sinh viên Sư phạm Tiểu học Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn trong giai đoạn 2015 - 2017. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao khi gắn kết mục tiêu bảo tồn di sản theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII với việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho các giáo viên tiểu học tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết giáo dục âm nhạc truyền thống kết hợp với quan điểm giáo dục toàn diện của Ngô Thị Nam và lý luận văn hóa dân gian của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học hàng đầu. Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê từng khẳng định âm nhạc truyền thống chính là phương tiện đối thoại hòa bình và kết nối văn hóa sâu sắc giữa các thế hệ. Đồng quan điểm đó, Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Phạm Lê Hòa nhấn mạnh bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong trường học là nền tảng sống còn của bản sắc văn hóa đương đại.

Khung lý thuyết của luận văn tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi:

  • Dân ca: Nghệ thuật truyền khẩu phản ánh hiện thực lao động và đời sống tâm hồn của cộng đồng cư dân nông nghiệp.
  • Hát Sli: Thể loại dân ca trữ tình độc đáo của người Nùng, bao gồm hai nhánh chính là Sli Slình làng của người Nùng Cháo và Sli Soong hàu của người Nùng Phàn slình với cấu trúc hát bè quãng 2, quãng 3 và quãng 4 tự nhiên.
  • Hát Lượn: Thể loại hát giao duyên tiêu biểu của người Tày, nổi bật nhất là Lượn Slương với cấu tạo thơ thất ngôn tứ tuyệt và ba chặng hát bài bản gồm Lượn nài, Lượn đi đường và Lượn chia tay.
  • Hoạt động ngoại khóa âm nhạc: Hình thức giáo dục tự nguyện ngoài giờ lên lớp giúp chuyển hóa kiến thức nhạc lý thành kỹ năng thực hành diễn xướng.

Về mặt âm nhạc học, các bài bản Sli và Lượn được cấu thành chủ yếu dựa trên thang 3 âm như La - Đô - Mi, thang 4 âm như Đô - Rê - Mi - Sol, hoặc thang 5 âm ngũ cung mang âm hưởng văn hóa Đông Bắc.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả triển khai nghiên cứu trên cỡ mẫu toàn diện gồm 100% sinh viên các lớp Sư phạm Tiểu học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn cùng 06 giảng viên trực thuộc Tổ Âm nhạc (gồm 02 Thạc sĩ Âm nhạc và 04 Cử nhân Đại học Sư phạm Âm nhạc). Phương pháp chọn mẫu theo cụm đại diện cho toàn bộ đối tượng thụ hưởng trực tiếp trong giai đoạn đào tạo 2015 - 2017.

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua quá trình điền dã thực tế, tiếp cận nghệ nhân dân gian tại các địa bàn như Cao Lộc, Chi Lăng, Văn Quan và nguồn tư liệu ghi âm từ Hội Bảo tồn Dân ca tỉnh Lạng Sơn. Tác giả lựa chọn phối hợp phương pháp phân tích âm nhạc học so sánh để phân tách cấu trúc giai điệu, tiết tấu và lời ca; phương pháp phỏng vấn sâu; cùng phương pháp thực nghiệm sư phạm đối chứng. Phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng được ưu tiên nhằm đánh giá khách quan khả năng cảm thụ cao độ, kỹ thuật nhả chữ và mức độ tự tin của người học trước và sau khi áp dụng các biện pháp can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực trạng và triển khai nghiên cứu đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa tỷ lệ thành phần dân tộc và khả năng thực hành văn hóa. Mặc dù sinh viên gốc Tày và Nùng chiếm tới 89% tổng số sinh viên Sư phạm Tiểu học, có đến hơn 85% sinh viên khi được khảo sát thừa nhận không biết hát trọn vẹn một bài Sli hay Lượn đúng phong cách dân gian. Hầu hết các em đều có tâm lý e ngại, rụt rè khi được yêu cầu thể hiện làn điệu của dân tộc mình trước tập thể.

Thứ hai, cấu trúc chương trình đào tạo hiện hành thiếu vắng không gian dành cho dân ca địa phương. Nhà trường gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc, dẫn đến việc học phần Hát dân ca 30 tiết chuyên sâu bị cắt giảm. Sinh viên ngành Tiểu học chỉ được trang bị 4 học phần cơ sở với tổng cộng 120 tiết (gồm Nhạc lý sơ giản 30 tiết, Tập đọc nhạc 30 tiết, Hát 30 tiết và Đàn 30 tiết), hoàn toàn chưa có thời lượng dành riêng cho Sli, Lượn cổ truyền.

Thứ ba, tiềm năng tiếp thu âm nhạc của sinh viên ở độ tuổi 18 - 20 là rất lớn. Với chất giọng tự nhiên chưa bị xơ cứng bởi kỹ thuật thanh nhạc phức tạp cùng lợi thế am hiểu phương ngữ bản địa, sinh viên nắm bắt thang 5 âm nhanh hơn 40% khi được tiếp cận bài bản ký âm rõ ràng thay vì chỉ học truyền miệng đơn thuần.

Thứ tư, phương pháp truyền dạy truyền thống không còn phù hợp với đối tượng trẻ tuổi. Cách dạy truyền khẩu trực tiếp của các nghệ nhân cao tuổi thiếu đi sự hỗ trợ của nhạc cụ định âm, khiến 75% sinh viên ban đầu cảm thấy các bài Sli Soong hàu hoặc Lượn Slương có giai điệu quá tự do và khó nhớ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng mai một xuất phát từ việc thiếu hụt giáo trình chuẩn hóa và sự suy giảm không gian diễn xướng tự nhiên tại các bản làng. So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây của Hoàng Tuấn (2000) và Hoàng Văn Páo (2012), vốn chủ yếu dừng lại ở việc sưu tầm văn bản học và khảo cứu phong tục, luận văn của Nguyễn Thu Hà đã tạo ra bước đột phá khi chuyển dịch các làn điệu cổ sang phương pháp sư phạm ứng dụng trong môi trường học đường.

Dữ liệu khảo sát thực nghiệm có thể được mô hình hóa qua bảng so sánh đối chứng trước và sau can thiệp:

Tiêu chí đánh giá Tỷ lệ đạt trước can thiệp Tỷ lệ đạt sau thực nghiệm ngoại khóa Mức độ cải thiện
Nắm vững cao độ thang 3 - 5 âm 18,5% 78,2% Tăng 59,7%
Kỹ thuật lấy hơi và nhả chữ tiếng Tày - Nùng 22,0% 81,5% Tăng 59,5%
Tự tin trình diễn trước đám đông 15,0% 85,0% Tăng 70,0%

Kết quả này khẳng định hoạt động ngoại khóa chính là không gian tối ưu để giải tỏa áp lực học tập, cho phép người học vừa học vừa chơi nhưng vẫn đạt hiệu quả tiếp thu kỹ năng âm nhạc vượt trội. Việc tinh giản các nốt luyến láy phức tạp trong các bài Sli Mừng xuân mới hay Lượn Nhớ ơn chài Thụ đã giúp người học nhanh chóng làm chủ kỹ thuật diễn xướng dân gian.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng dạy học dân ca Tày - Nùng trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm cụ thể:

Thứ nhất, tuyển chọn và biên soạn hệ thống bài bản tinh giản. Ban chủ nhiệm bộ môn cần tiến hành ký âm chuẩn xác các bài Sli Slình làng, Sli Soong hàu và Lượn Slương ngắn gọn, tiêu biểu như Đời đời kế tiếp Sli Nùng, Ca ngợi quê hương đổi mới, Lượn nài. Cần lược bớt các nốt hoa mỹ quá khó, giữ vững trục âm ổn định dựa trên thang 3 đến 5 âm để 100% sinh viên có thể tự vỡ bài trên bản nhạc trong vòng 2 đến 3 buổi học.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình dạy học 3 bước kết hợp công cụ định âm. Giảng viên cần tổ chức luyện tập tuần tự qua 3 phong cách:

  • Lối đọc thơ (hát nói): Rèn luyện nhịp điệu khúc chiết và phát âm rõ lời thơ thất ngôn.
  • Lối ngâm thơ (hát xướng): Phát triển độ mềm mại, xử lý luyến láy nhẹ nhàng ở đuôi câu.
  • Lối lên giọng (hát nhằm): Hoàn thiện giai điệu, tiết tấu và lồng ghép chính xác các hư từ như "nhì ài soong hàu", "hơ ơ hỡi". Trong mọi buổi tập, bắt buộc sử dụng sáo trúc hoặc đàn phím điện tử để giữ cao độ chuẩn cho sinh viên.

Thứ ba, đa dạng hóa các mô hình tổ chức ngoại khóa. Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên cần thành lập Câu lạc bộ Dân ca Tày - Nùng hoạt động định kỳ 2 tuần một lần; lồng ghép dạy hát Sli, Lượn vào học phần Rèn kỹ năng mềm; đồng thời tổ chức định kỳ Hội thi Tiếng hát Dân ca cấp trường vào dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và ngày thành lập Đoàn 26/3.

Thứ tư, tăng cường liên kết thực tiễn và ứng dụng hạ tầng số. Nhà trường cần định kỳ mỗi học kỳ 1 lần mời các nghệ nhân thuộc Hội Bảo tồn Dân ca tỉnh Lạng Sơn đến giao lưu, truyền lửa đam mê và thị phạm trực tiếp cho sinh viên. Đồng thời, khai thác tối đa hệ thống phủ sóng wifi toàn trường được lắp đặt từ năm 2014 để phát thanh các bài Sli, Lượn chuẩn mực tại khu ký túc xá vào các khung giờ sinh hoạt chung.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, giảng viên âm nhạc tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm và giáo viên tiểu học tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình cung cấp phương pháp giảng dạy âm nhạc dân tộc tích hợp ký âm và đệm nhạc cụ trực quan, giúp giáo viên dễ dàng dàn dựng các tiết mục văn nghệ học đường.

Thứ hai, sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Âm nhạc. Luận văn là tài liệu hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật phát âm, nhả chữ và cấu trúc bài bản của dân ca Tày - Nùng, giúp sinh viên tự tin làm giàu hành trang sư phạm trước khi về nhận công tác tại các điểm trường vùng cao.

Thứ ba, cán bộ quản lý văn hóa và các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian. Tài liệu cung cấp góc nhìn thực chứng cùng hệ thống tư liệu điền dã có giá trị về quá trình biến đổi của hát Sli, Lượn trong đời sống đương đại của tỉnh Lạng Sơn.

Thứ tư, ban chủ nhiệm các câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật quần chúng. Đây là cẩm nang hữu ích về phương pháp tổ chức sinh hoạt ngoại khóa, xây dựng kịch bản giao lưu diễn xướng dân gian cho thanh thiếu niên tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Sinh viên không phải là người Tày - Nùng hoặc không có năng khiếu âm nhạc vượt trội có thể học hát Sli, Lượn được không? Hoàn toàn có thể. Nhờ phương pháp chuyển đổi các làn điệu dân ca thành bản ký âm chuẩn hóa trên thang 3 đến 5 âm kết hợp sự hỗ trợ cao độ từ sáo trúc, sinh viên chỉ cần nắm vững 4 học phần âm nhạc cơ bản (120 tiết) là có thể tự đọc nhạc, khớp lời thơ thất ngôn và thể hiện đúng phong cách dân ca mộc mạc.

Sự khác biệt cốt lõi về âm nhạc giữa hát Sli của người Nùng và hát Lượn của người Tày là gì? Hát Sli của người Nùng mang tính chất khỏe khoắn, phóng khoáng, tiết tấu tự do và đặc biệt thể loại Sli Soong hàu luôn hát hai bè song song độc đáo. Ngược lại, hát Lượn của người Tày (tiêu biểu là Lượn Slương) lại có tính chất trữ tình, du dương, kín đáo, cấu trúc bài bản chặt chẽ và thường được diễn xướng trong không gian ấm cúng trong nhà.

Tại sao tác giả lại lựa chọn hình thức ngoại khóa thay vì đưa Sli, Lượn vào chương trình giảng dạy chính khóa? Do trường không còn đào tạo chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc riêng biệt nên thời lượng giờ chính khóa dành cho sinh viên tiểu học bị giới hạn trong 4 học phần nền tảng. Hoạt động ngoại khóa mang tính tự nguyện, vừa học vừa chơi, tạo môi trường tâm lý thoải mái giúp sinh viên rèn luyện sự tự tin mà không bị áp lực điểm số đè nặng.

Vai trò của nhạc cụ bổ trợ như sáo trúc trong quá trình truyền dạy dân ca truyền khẩu là gì? Hát Sli và Lượn nguyên bản không có nhạc đệm khiến người mới học rất dễ bị chênh phô cao độ hoặc lạc nhịp. Việc sử dụng sáo trúc làm nhạc cụ dẫn dắt giúp giữ vững âm gốc ổn định (như nốt La trong thang 5 âm), định hình chính xác các đoạn luyến láy và tạo sự hứng khởi cho người học.

Nghiên cứu này căn cứ trên những chủ trương, chính sách pháp lý nào của Nhà nước và ngành giáo dục? Đề tài bám sát Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD&ĐT và Kế hoạch số 30/KH-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực thông qua việc đưa dân ca vào nhà trường.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu và để lại những đóng góp nền tảng:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đặc trưng âm nhạc học của làn điệu hát Sli dân tộc Nùng và hát Lượn dân tộc Tày tại tỉnh Lạng Sơn.
  • Đánh giá chính xác thực trạng dạy học âm nhạc trên tập mẫu sinh viên Sư phạm Tiểu học với 89% là con em đồng bào bản địa tại Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn.
  • Đề xuất quy trình sư phạm 3 bước khoa học (hát nói, hát xướng, hát nhằm) kết hợp tinh giản bài bản và ứng dụng nhạc cụ định âm.
  • Thiết lập mô hình hoạt động ngoại khóa đa dạng gồm Câu lạc bộ Dân ca, Hội thi tiếng hát học đường và giao lưu nghệ nhân thực tiễn.
  • Đóng góp giải pháp bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể mang tính bền vững ngay trong môi trường đào tạo sư phạm.

Trong lộ trình tiếp theo, nhà trường cần hoàn thiện việc số hóa giáo trình bài bản Sli, Lượn có ký âm để phổ biến rộng rãi cho các khóa sinh viên mới. Mỗi cán bộ, giảng viên và sinh viên sư phạm hãy chủ động trở thành một hạt nhân văn hóa tích cực, chung tay gìn giữ và lan tỏa những làn điệu Sli, Lượn tha thiết của quê hương xứ Lạng trong thời kỳ hội nhập.