Tổng quan luận án

Công trình Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp trong giai đoạn mới là luận án tiến sĩ chuyên ngành Âm nhạc học (mã số: 62 21 02 01) của nghiên cứu sinh Lê Thị Minh Xuân, được hoàn thành năm 2015 tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Phúc Linh.

Về tính cấp thiết, đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp xuất phát từ châu Âu vào thế kỷ XVI – XVII và được du nhập vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX. Hoạt động đào tạo chính quy bắt đầu từ năm 1956 gắn với sự thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam. Bước sang giai đoạn mới, hệ thống giáo dục nghệ thuật chịu sự chi phối từ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng Chiến lược phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 do Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam xây dựng từ năm 2011 với ba định hướng: đào tạo tài năng đỉnh cao, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và đào tạo phổ cập nâng cao dân trí.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động âm nhạc ngoài xã hội đang nảy sinh nhiều phức tạp: xu hướng chạy theo thị hiếu thấp kém, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh giải trí thương mại, dẫn đến hiện tượng nghiệp dư hóa biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp. Ca sĩ chuyên nghiệp chuyển dịch sang thị trường giải trí; sinh viên thanh nhạc thiếu mặn mà với hát opera và thính phòng, chủ yếu hướng đến việc biểu diễn ca khúc sau khi tốt nghiệp. Ở khía cạnh đào tạo, các cơ sở âm nhạc còn lúng túng giữa duy trì mô hình cũ và đáp ứng yêu cầu mới; chương trình và giáo trình đào tạo đại học vẫn dùng chung một khung cho mọi đối tượng mà chưa phân dòng khoa học giữa opera, thính phòng và ca khúc; thời gian đào tạo đại học bị rút ngắn từ 5 năm xuống 4 năm gây khó khăn trong việc hoàn thành khối lượng kiến thức và bảo đảm chuẩn đầu ra.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây ở Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo hướng hoạch định chiến lược vĩ mô toàn ngành âm nhạc, tổng kết kinh nghiệm sư phạm cá nhân, biên soạn danh mục tác phẩm thuần túy hoặc nghiên cứu giải pháp cục bộ ở phạm vi địa phương trong các luận văn thạc sĩ. Hướng nghiên cứu về một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp bậc đại học trong bối cảnh đổi mới và hội nhập vẫn còn bỏ ngỏ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp bậc đại học tại các học viện âm nhạc và nhạc viện ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

Các câu hỏi nghiên cứu được văn bản xác định gồm:

  1. Người thầy dạy thanh nhạc cần phải làm gì để luôn cập nhật, làm chủ tri thức, phương pháp làm việc hiệu quả để công việc giảng dạy ngày một nâng cao?
  2. Mô hình đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp giữ nguyên như cũ hay cần phải điều chỉnh để phù hợp với mô hình đào tạo theo hướng đa dạng hóa?
  3. Phương pháp dạy học cần phải điều chỉnh như thế nào cho phù hợp với yêu cầu mới, và cần làm gì để năng lực của giảng viên thanh nhạc đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới của quá trình đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: Trong giai đoạn mới, nếu tiến hành đổi mới mô hình, chương trình, giáo trình thanh nhạc chuyên nghiệp theo hướng đa dạng hóa; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của sinh viên; đồng thời chuẩn hóa năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên, thì hiệu quả đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp bậc đại học sẽ được nâng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp bao gồm nội dung chương trình, giáo trình môn học, chất lượng đội ngũ giảng viên, hoạt động học tập và kiểm tra đánh giá sinh viên. Khách thể nghiên cứu là hoạt động dạy học thanh nhạc chuyên nghiệp.
  • Phạm vi nội dung: Đào tạo thanh nhạc trình độ đại học.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trọng tâm tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, có tham khảo Học viện Âm nhạc Huế và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến năm 2015, nhấn mạnh mốc từ sau năm 2011 và Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013.
  • Phạm vi thực nghiệm: Triển khai trên sinh viên thanh nhạc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Học viện Âm nhạc Huế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Văn bản điểm lại hệ thống tư liệu lịch sử và các công trình nghiên cứu chuyên ngành ở nước ngoài và trong nước theo tiến trình thời gian:

Các nghiên cứu nước ngoài về sư phạm thanh nhạc:

  • Giulio Caccini (1545 – 1618): Tác phẩm Nuove musique (Âm nhạc mới) được coi là công trình lý luận thanh nhạc đầu tiên, sáng lập phương pháp ca hát bel canto với quan điểm chia giọng hát làm hai âm khu (giọng ngực và giọng đầu), bắt đầu luyện tập từ âm khu trung rồi phát triển rộng về hai phía.
  • Pietro Francesco Tosi (1647 – 1727): Tác phẩm Opinioni decantori antichi e moderni (Những kiến giải về cách hát hào hoa), đặt ra các tiêu chí kỹ thuật thanh nhạc trường phái bel canto thế kỷ XVIII.
  • Giambattista Mancini (1716 – 1800): Tác phẩm Pensieri e riflessioni pratiche sopra il canto figurato (Ý kiến và thể nghiệm qua thực hành về nghệ thuật hát kỹ xảo màu sắc, xuất bản năm 1774 tại Vienne), kế thừa phương pháp của Tosi và tổng kết thực hành bel canto.
  • Manuel Garcia (1775 – 1832): Công trình Phương pháp ca hát và các bài luyện thanh (1822), đúc kết kinh nghiệm thực tiễn xây dựng phương pháp giảng dạy riêng.
  • Garcia II (1805 – 1906): Luận văn hoàn chỉnh về nghệ thuật hát (1847), phát minh gương soi thanh quản quan sát dây thanh; chủ trương nâng hàm ếch mềm để tạo tiếng vang trong khoang miệng và họng.
  • M. Glinka (1804 – 1857): Công trình Bài tập để hoàn thiện giọng hát, đề xuất củng cố âm thanh tự nhiên, liên kết âm thanh từ âm khu trung ra hai phía, kỹ thuật đường thẳng khí nhạc và đóng giọng.
  • Mathilde Marchesi (1821 – 1931): Bộ 24 cuốn sách luyện thanh (Bel canto, một phương pháp ca hát có lý luận và giá trị thực dụng), người đầu tiên đưa ra khái niệm giọng pha và giải thích vấn đề thống nhất âm khu; áp dụng hình thức dạy học tập thể.
  • Giacomo Lauri Volpi (1892 – 1979): Chuyên khảo Giọng hát song hành, phân tích hơi thở ca hát dựa trên hệ thống Yoga, tập trung ý chí vào phần lưỡi gà hàm ếch mềm.
  • Anna Peckham (2012): Sách Phương pháp luyện giọng để trở thành ca sĩ (Trưởng bộ môn giọng tại Trường Âm nhạc Berklee, Hoa Kỳ), hệ thống hóa kỹ thuật bel canto, điều khiển hơi thở, thanh quản và bảo vệ giọng hát.

Các công trình nghiên cứu và giáo trình tại Việt Nam:

  • Sách chuyên khảo và giáo trình của GS.NSND Nguyễn Trung Kiên: Phương pháp sư phạm thanh nhạc (2001) – cẩm nang lý luận đầu tiên về quy trình đào tạo đại học thanh nhạc; Lược sử opera (2011) – giới thiệu nội dung 50 vở opera thế giới; Những vấn đề sư phạm thanh nhạc (2014) – dày hơn 500 trang đúc kết kinh nghiệm sư phạm; Giáo trình đại học thanh nhạc (nghiệm thu năm 2007) gồm trích đoạn opera cho giọng nữ cao (122 tác phẩm), nam cao (112 tác phẩm), nam trung trầm (116 tác phẩm); đề tài NCKH trọng điểm cấp Bộ Đa dạng hóa mô hình đào tạo âm nhạc VN trong giai đoạn mới (2009, cùng nhóm tác giả Trần Thu Hà, Ngô Văn Thành, Lưu Quang Minh, Phạm Minh Khang, Nguyễn Phúc Linh); Bộ giáo trình thanh nhạc gồm phần đệm và nhạc mẫu tác phẩm nước ngoài ứng dụng công nghệ thông tin (nghiệm thu 2012); Tuyển tập Những tác phẩm thanh nhạc nước ngoài chọn lọc (2013, 3 tập gồm 141 bài); dịch tập Năm mươi ca khúc của Franz Schubert dành cho các giọng cao (2014).
  • Các công trình chuyên khảo khác: Phương pháp dạy thanh nhạc (2008) và Lịch sử nghệ thuật thanh nhạc phương tây (2005) của NGƯT Hồ Mộ La, tiếp cận theo cơ chế hoạt động sinh lý phát âm; Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát (2011) và đề tài Nâng cao chất lượng hát tiếng Việt trong nghệ thuật hát mới (2010) của TS.NSƯT Trần Ngọc Lan; Sách học thanh nhạc (cuối thập niên 90 thế kỷ XX) và Tuyển tập Thanh nhạc (1976, gồm 25 bài từ năm thứ nhất đến năm thứ năm) của PGS.NSND Mai Khanh; Giáo trình ĐH thanh nhạc (nghiệm thu 1996) của PGS.NGND Lô Thanh tại Huế; Đề cương bài giảng Phương pháp sư phạm Âm nhạc (2013) và đề tài cấp Bộ Ứng dụng CNTT trong đào tạo và nghiên cứu âm nhạc (2003) của PGS.TS Nguyễn Phúc Linh; đề tài cấp Bộ Đào tạo tài năng biểu diễn âm nhạc đỉnh cao ở VN của GS.NGND Trần Thu Hà.
  • Luận văn, luận án: Luận văn cao học của Trần Diệu Thúy (1999) chỉ ra bất cập trong chương trình và giáo trình tại Nhạc viện Hà Nội; luận án tiến sĩ của Trương Ngọc Thắng (2008) về Quá trình hình thành và phát triển của ca hát chuyên nghiệp VN; các nghiên cứu về opera của PGS.TS Nguyễn Thị Tố Mai và ca khúc cách mạng của TS Nguyễn Đăng Nghị.
Tác giả Tên công trình / Giáo trình Năm Đặc điểm và phạm vi nội dung
PGS.NSND Mai Khanh Tuyển tập Thanh nhạc 1976 Giáo trình nội bộ đầu tiên, 25 tác phẩm từ năm thứ nhất đến năm thứ năm đại học; chủ yếu tác giả thế kỷ XIX.
PGS.NGND Lô Thanh Giáo trình ĐH thanh nhạc 1996 Được Bộ Văn hóa Thông tin nghiệm thu, phục vụ giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Huế; chưa phân dòng chuyên sâu.
GS.NSND Nguyễn Trung Kiên Giáo trình đại học thanh nhạc 2007 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiệm thu; chia theo giọng (nữ cao 122 bài, nam cao 112 bài, nam trung trầm 116 bài); chủ yếu opera thế kỷ XVIII – XIX.
GS.NSND Nguyễn Trung Kiên Bộ giáo trình thanh nhạc gồm phần đệm và nhạc mẫu 2012 Ứng dụng công nghệ thông tin, tích hợp âm thanh mẫu và phần đệm piano cho tác phẩm nước ngoài; chưa được triển khai rộng rãi.
GS.NSND Nguyễn Trung Kiên Tuyển tập Những tác phẩm thanh nhạc nước ngoài chọn lọc 2013 3 tập gồm 141 bài romance và aria có phần đệm piano, bước đầu có bản dịch lời Việt chuẩn mực.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có các công trình lý luận và giáo trình nêu trên, đào tạo thanh nhạc đại học ở Việt Nam vẫn sử dụng chung một chương trình và giáo trình cho mọi đối tượng, chưa phân định rạch ròi giáo trình cho các dòng chuyên biệt (opera, thính phòng, ca khúc). Năng lực nghiên cứu khoa học và phương pháp sư phạm của đội ngũ giảng viên còn thiếu tính đồng bộ; việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đi vào thực chất. Luận án đặt vị trí nghiên cứu vào việc thiết kế một hệ thống giải pháp tổng thể, kết hợp đổi mới mô hình, đa dạng hóa chương trình, giáo trình với chuẩn hóa năng lực giảng viên và đổi mới phương pháp dạy học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm công cụ:

  • Chuyên nghiệp: Được hiểu là loại hình nghề nghiệp chuyên sâu và phẩm chất làm việc có tính chuyên môn cao, kiến thức sâu rộng, phương pháp làm việc khoa học. Trong phạm vi luận án, khái niệm này định vị cụ thể là đào tạo thanh nhạc bậc đại học tại các học viện âm nhạc và nhạc viện.
  • Mô hình đào tạo: Cấu trúc gồm hình thức, phương thức, quy mô, nội dung chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên, sinh viên, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và cơ sở vật chất. Đề tài tập trung vào ba thành tố cốt lõi: mục tiêu, chương trình – giáo trình, và phương pháp dạy học.
  • Phương pháp sư phạm thanh nhạc và Khuynh hướng sư phạm thanh nhạc: Cách thức giảng dạy nhằm giúp sinh viên phát triển giọng hát, nắm bắt phong cách và hình tượng âm nhạc; phản ánh sự vận động của các trường phái thanh nhạc qua các thời kỳ lịch sử.
  • Bel canto: Thuật ngữ tiếng Ý chỉ "cách hát đẹp", xuất hiện từ thế kỷ XVII. Đặc trưng kỹ thuật gồm: san bằng các âm khu, tạo âm vực rộng, âm sắc thanh nhã, âm thanh tròn trịa trên điểm tựa, hát liền âm mượt mà (legato/cantilena), làm chủ các kỹ xảo hoa mỹ (staccato, trillo, passage, martellato, portamento).
  • Hệ thống 5 kiểu thở thanh nhạc:
    1. Thở ngực: Lồng ngực trương rộng, nâng cao khi hít khí, cơ bụng hơi co lại; tạo âm thanh cao, mềm mại, âm lượng nhỏ; thích hợp với giọng castrato thế kỷ XVII – XVIII.
    2. Thở ngực – sườn: Có sự tham gia của lồng ngực và xương sườn, kích hoạt độ đàn hồi của cơ hoành; tạo âm thanh khỏe và vang hơn thở ngực.
    3. Thở ngực – bụng: Kết hợp nâng ngực, nở sườn và bụng; huy động tích cực cơ hoành, tạo áp lực hơi lớn đáp ứng âm lượng mạnh trên toàn bộ âm vực.
    4. Thở bụng: Bụng phình căng, lồng ngực và sườn ít di động, hơi sâu đến đáy phổi; phù hợp giọng trung, trầm, đòi hỏi độ dày và nội lực.
    5. Thở yoga: Kiểu thở toàn diện phát huy tối đa xương sườn, cơ hoành, cơ bụng, cơ lưng, giải phóng cơ vai và gáy; giúp cơ thể thư thái, đáp ứng mọi sắc thái kỹ thuật trong opera và thính phòng.
  • Các phương pháp sư phạm cốt lõi: Phương pháp thị phạm ("hãy hát như tôi hát" – truyền nghề trực quan qua làm mẫu âm thanh); phương pháp gợi mở ("hãy làm như tôi nói" – sử dụng ngôn ngữ phân tích, tác động tâm lý và nhận thức tư duy); phương pháp kết hợp thị phạm và gợi mở.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án sử dụng hướng tiếp cận hỗn hợp:

  • Phương pháp định tính: Phân tích, tổng hợp tư liệu lịch sử, sách chuyên khảo, chương trình môn học, giáo trình thanh nhạc; so sánh đối chiếu các khuynh hướng sư phạm phương Tây và sự tiếp biến tại Việt Nam; phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp chuyên gia lấy ý kiến các nhà sư phạm đầu ngành.
  • Phương pháp định lượng: Điều tra khảo sát thực trạng, thống kê số liệu kết quả học tập, điểm thi kết thúc học phần và thi tốt nghiệp của sinh viên thanh nhạc.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Học viện Âm nhạc Huế nhằm kiểm tra tính hiệu quả của chương trình phân dòng, tài liệu có bản dịch lời Việt và giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin.
  • Nguồn tư liệu: Các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết 29-NQ/TW, Chiến lược nhân lực ngành VHTTDL 2020 – 2030); hồ sơ đào tạo, chương trình, giáo trình từ năm 1956 đến năm 2015 của ba cơ sở đào tạo âm nhạc lớn của Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sư phạm thanh nhạc châu Âu và sự hình thành các cơ sở đào tạo thanh nhạc hàng đầu ở Việt Nam

Chương này trình bày lịch sử sư phạm thanh nhạc châu Âu qua bốn thế kỷ và quá trình hình thành ba cơ sở đào tạo hàng đầu của Việt Nam.

Khuynh hướng sư phạm thanh nhạc châu Âu trải qua các thời kỳ:

  • Thế kỷ XVII: Gắn liền với sự ra đời của opera Ý theo phong cách bel canto, tiêu biểu qua các tác phẩm của Claudio Monteverdi, Alessandro Scarlatti, A. Caldara. Kỹ thuật đòi hỏi hát liền âm, nốt cao hát nhỏ nhẹ, sử dụng giọng giả thanh (falsetto), thịnh hành giọng castrato. Sư phạm lấy phương pháp thị phạm làm chủ đạo ("hãy hát như tôi hát"), áp dụng kiểu thở ngực và xây dựng kỹ xảo dựa trên phát âm tiếng Ý.
  • Thế kỷ XVIII: Giai đoạn cải cách opera với hai khuynh hướng của C. Gluck (âm nhạc phục tùng kịch bản) và W. Mozart (nội dung kịch phục tùng âm nhạc). Giọng castrato thoái trào, giọng nữ đảm nhận các vai nữ. Sư phạm bổ sung phương pháp gợi mở ("hãy làm như tôi nói"), bắt đầu tìm hiểu sinh lý học cơ quan phát âm (Bierar, Mengoxi, Gara, Cherubini).
  • Thế kỷ XIX: Opera phát triển tính kịch quy mô lớn (G. Verdi); thể loại romance và ca khúc nghệ thuật đạt đỉnh cao với Franz Schubert (thống nhất thơ ca và âm nhạc qua các tập Cô chủ cối xay xinh đẹp, Con đường mùa đông). Phòng hòa nhạc mở rộng đòi hỏi âm lượng lớn, dẫn đến việc thay thế thở ngực bằng thở ngực – sườn và ngực – bụng. Xuất hiện sự khác biệt giữa trường phái Ý (đưa âm thanh lên cao ra phía trước, đóng tiếng ở âm khu chuyển giọng) và trường phái Nga (đưa âm thanh lên cao ra phía sau, mở tiếng ở âm khu chuyển giọng). Phương pháp sư phạm kết hợp thị phạm với gợi mở.
  • Thế kỷ XX: Bối cảnh xã hội biến chuyển phức tạp với nhiều khuynh hướng: Ấn tượng (C. Debussy, M. Ravel), Cổ điển mới (I. Stravinsky), Hiện thực (G. Puccini), Mười hai âm (A. Schoenberg). Xuất hiện các phát minh kỹ thuật: đĩa nhạc Columbia (1948), phòng tổng hợp âm thanh New York (1955), ghi âm stereo (1958), đĩa CD và internet (1989). Bel canto tiếp tục là nền tảng nhưng kết hợp thêm kỹ thuật đóng tiếng và vận dụng hơi thở Yoga (Giacomo Lauri Volpi).

Khái quát về ba cơ sở đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp hàng đầu ở Việt Nam:

  • Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam: Thành lập năm 1956 (Trường Âm nhạc Việt Nam), đào tạo đại học từ năm 1961. Trải qua ba giai đoạn:
    • Giai đoạn trước 1975: Sự xuất hiện của ca khúc cách mạng từ năm 1930 (Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu) và nghệ thuật opera từ năm 1965 (Cô Sao, Bên bờ K’rông Pa, Bông Sen, Người tạc tượng). Khóa học đầu tiên do nghệ sĩ Quốc Hương giảng dạy, tiếp đó có chuyên gia Khương Gia Tường (Trung Quốc), Alechxan Craxova (Nga) và Badrize (Liên Xô); sinh viên dàn dựng thành công vở opera Eugène Onegin. Mục tiêu đào tạo ban đầu là hát opera.
    • Giai đoạn sau 1975: Đất nước thống nhất, dàn dựng các opera Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1980), Tình yêu của em (1981). Đào tạo theo mô hình Liên Xô và Đông Âu (Trung cấp 4 năm, Đại học 5 năm), mang tính bao cấp; chương trình phụ thuộc vào sở thích giảng viên; xuất hiện sự xâm lấn của nhạc nhẹ và nhạc hải ngoại tự phát.
    • Giai đoạn đổi mới (1986 đến 2015): Chuyên gia nước ngoài rút lui, giảng viên Việt Nam tự đảm nhận. Khoa Thanh nhạc từng lúng túng giữa đào tạo opera và nhạc nhẹ. Sau đó tiếp thu mô hình Tây Âu và Bắc Mỹ, rút ngắn thời gian đại học từ 5 năm xuống 4 năm. Ban hành chương trình môn học năm 2007, bộ giáo trình của GS.NSND Nguyễn Trung Kiên các năm 2007, 2010, 2012.
  • Học viện Âm nhạc Huế: Tiền thân là Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Huế (1962), sau 1975 được Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam chi viện giảng viên nòng cốt để xây dựng Khoa Thanh nhạc, trở thành trung tâm đào tạo lớn ở miền Trung và Tây Nguyên.
  • Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh: Tiền thân là Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (1956). Khoa Thanh nhạc thành lập năm 1975 với lực lượng chi viện từ Hà Nội (PGS.NSND Mai Khanh, NSƯT Quốc Trụ), đào tạo thống nhất theo khung chuyên môn của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng và yêu cầu đổi mới đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng đào tạo thanh nhạc đại học tại các cơ sở âm nhạc, xác định nguyên nhân và nêu các quan điểm đổi mới.

Thực trạng đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp:

  • Mục tiêu đào tạo chưa phù hợp thực tiễn: Mục tiêu chính thức là đào tạo nghệ sĩ hát opera và thính phòng, nhưng số lượng sinh viên tốt nghiệp công tác tại hai nhà hát vũ kịch (Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam và Nhà hát Giao hưởng, Nhạc Vũ Kịch TP.HCM) rất ít, chủ yếu tham gia hợp xướng; phần lớn hoạt động trong lĩnh vực hát ca khúc ngoài xã hội hoặc tham gia giảng dạy mà thiếu kiến thức phương pháp sư phạm.
  • Chương trình và giáo trình: Tồn tại hiện tượng "đồng nhất hóa", sử dụng chung một chương trình và giáo trình cho mọi đối tượng sinh viên. Việc phân dòng chuyên ngành (opera, thính phòng, ca khúc) chưa mang tính hệ thống. Danh mục tác phẩm trong các giáo trình hiện hành tập trung vào tác giả thế kỷ XVIII – XIX, còn thiếu các tác phẩm thế kỷ XVII, thế kỷ XX và dân ca các vùng miền Việt Nam (miền núi phía Bắc, Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên). Bộ giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin có đĩa đệm và nhạc mẫu của GS.NSND Nguyễn Trung Kiên đã nghiệm thu nhưng chưa được đưa vào giảng dạy đồng bộ.
  • Đội ngũ giảng viên: Lớp giảng viên thế hệ đầu giàu kinh nghiệm ngày càng cao tuổi; lực lượng giảng viên kế cận còn thiếu kinh nghiệm biểu diễn thực tế và phương pháp sư phạm; năng lực ngoại ngữ chuyên ngành (Ý, Đức, Pháp, Nga) hạn chế, dẫn đến khó khăn khi hướng dẫn sinh viên hát đúng văn bản tiếng nước ngoài; hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu chưa trở thành nền nếp.
  • Hoạt động của sinh viên: Sinh viên thiếu mặn mà với nghệ thuật opera, có xu hướng thiên lệch sang hát ca khúc thị trường; việc rút ngắn thời gian đào tạo từ 5 năm xuống 4 năm gây áp lực lớn lên tiến độ rèn luyện kỹ thuật cơ bản.

Nguyên nhân của những hạn chế:

  • Tác động tiêu cực của cơ chế thị trường làm nảy sinh quan niệm thương mại hóa nghệ thuật, tình trạng nghiệp dư hóa biểu diễn lan rộng.
  • Nguồn lực đầu tư ngân sách cho việc biên soạn giáo trình chuyên sâu và bồi dưỡng giảng viên ở nước ngoài còn hạn hẹp.
  • Thiếu chuẩn đầu ra phân định rạch ròi theo từng chuyên ngành hẹp gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực nghệ thuật.

Yêu cầu đổi mới: Đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp phải quán triệt tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW về chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, thực hiện định hướng đào tạo tài năng đỉnh cao song song với nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm cân bằng giữa các dòng nhạc (opera, thính phòng, ca khúc).

Chương 3: Giải pháp đổi mới đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp

Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp cụ thể và kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm:

  1. Chuẩn hóa đội ngũ giảng viên:
  • Chuẩn hóa năng lực chuyên môn: Giảng viên phải nắm vững kỹ thuật trường phái bel canto, làm chủ kỹ thuật của các loại giọng khác nhau; nâng cao trình độ ngoại ngữ để đọc hiểu, phiên âm và giải nghĩa chính xác ca từ tác phẩm cổ điển phương Tây.
  • Chuẩn hóa nghiệp vụ sư phạm: Kết hợp linh hoạt phương pháp thị phạm và phương pháp gợi mở ("hãy hát như tôi hát" kết hợp "hãy làm như tôi nói"); vận dụng các kiến thức sinh lý phát âm, âm học và tâm lý học lứa tuổi; bồi dưỡng phương pháp sư phạm cho giảng viên trẻ.
  • Chuẩn hóa năng lực nghiên cứu khoa học: Đưa hoạt động nghiên cứu lý luận, dịch thuật tác phẩm, biên soạn giáo trình thành chỉ tiêu bắt buộc đối với giảng viên thanh nhạc bậc đại học.
  1. Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của sinh viên:
  • Chuyển từ lối truyền thụ thụ động sang phát huy tính tự giác, tư duy phân tích tổng phổ âm nhạc và tự xử lý tác phẩm của người học.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin: Triển khai sử dụng giáo trình tích hợp đĩa đệm piano và nhạc mẫu tác phẩm nước ngoài vào quá trình tự học; sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình để sinh viên tự kiểm tra, sửa sai kỹ thuật âm thanh.
  1. Đa dạng hóa chương trình và giáo trình thanh nhạc chuyên nghiệp:
  • Phân tách mục tiêu và nội dung đào tạo thành ba hướng chuyên sâu: hướng hát opera, hướng hát thính phòng, hướng hát ca khúc và ca khúc mang âm hưởng dân ca.
  • Đa dạng hóa nguồn giáo trình: Biên soạn các bộ giáo trình có bản dịch nghĩa lời Việt (theo mô hình tuyển tập 50 ca khúc Schubert hoặc tuyển tập 141 bài nước ngoài); bổ sung tác phẩm tiền cổ điển thế kỷ XVII, tác phẩm thế kỷ XX và các bài dân ca Việt Nam có phần đệm phức điệu.
  1. Thực nghiệm sư phạm:
  • Địa bàn và đối tượng: Tiến hành trên sinh viên chuyên ngành biểu diễn thanh nhạc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Học viện Âm nhạc Huế.
  • Nội dung: Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, sử dụng giáo trình phân dòng và tài liệu có bản dịch lời Việt, ứng dụng công nghệ thông tin đối với nhóm thực nghiệm, so sánh đối chứng với nhóm học theo phương pháp truyền thống.
  • Đánh giá: Kết quả kiểm tra học phần cho thấy sinh viên nhóm thực nghiệm nắm bắt kỹ thuật vị trí âm thanh nhanh hơn, phát âm rõ lời, hiểu đúng nội dung kịch tính của tác phẩm và đạt kết quả chuyên môn cao hơn nhóm đối chứng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Tổng kết có hệ thống tiến trình lịch sử sư phạm thanh nhạc châu Âu qua các thế kỷ XVII, XVIII, XIX và XX; phân tích sâu bản chất kỹ thuật của trường phái bel canto và chỉ ra quy luật tiếp biến của trường phái này trong nền thanh nhạc chuyên nghiệp Việt Nam từ năm 1956.
  • Hệ thống hóa cơ sở khoa học của 5 kiểu thở trong thanh nhạc và phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa phương pháp thị phạm và phương pháp gợi mở trong giảng dạy thanh nhạc chuyên nghiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Khảo sát toàn diện thực trạng đào tạo thanh nhạc bậc đại học tại ba cơ sở âm nhạc hàng đầu (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Học viện Âm nhạc Huế, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh), chỉ ra những bất cập về cơ cấu chương trình, sự thiếu hụt giáo trình chuyên sâu và hạn chế của đội ngũ giảng viên.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: chuẩn hóa đội ngũ giảng viên trên ba phương diện (chuyên môn, sư phạm, nghiên cứu khoa học); đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin; đa dạng hóa mô hình, chương trình và giáo trình theo các phân dòng chuyên sâu.
  • Xây dựng danh mục tác phẩm và định hướng biên soạn giáo trình có dịch nghĩa lời Việt, làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Kiến nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng lãnh đạo các học viện âm nhạc bố trí kinh phí và cơ chế triển khai thực hiện Đề án phát triển Học viện Âm nhạc giai đoạn 2014 – 2020.
  • Đưa bộ giáo trình thanh nhạc ứng dụng công nghệ thông tin có phần đệm và nhạc mẫu vào chương trình đào tạo chính thức; tổ chức bồi dưỡng phương pháp sư phạm và ngoại ngữ định kỳ cho giảng viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Phạm vi nghiên cứu của đề tài mới tập trung vào bậc đại học tại các học viện âm nhạc và nhạc viện lớn (chủ yếu là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, tham khảo Huế và Thành phố Hồ Chí Minh), chưa thể khảo sát toàn diện bậc trung cấp, sau đại học cũng như hệ thống các trường văn hóa nghệ thuật tại các địa phương.
  • Do giới hạn nghiên cứu, luận án chưa đi sâu vào toàn bộ các yếu tố của mô hình đào tạo mà chỉ tập trung vào một số yếu tố cốt lõi là chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên và phương pháp dạy học.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc cho các bậc học trung cấp và sau đại học; nghiên cứu mô hình đào tạo thanh nhạc tại các cơ sở văn hóa nghệ thuật địa phương trên toàn quốc.
  • Tiếp tục nghiên cứu biên soạn và thẩm định các bộ giáo trình chi tiết cho từng chuyên ngành hẹp (hát opera, hát thính phòng, hát ca khúc dân gian) tích hợp công nghệ số hóa và xây dựng hệ thống tiêu chí chuẩn đầu ra tương thích với khung trình độ khu vực và quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên thanh nhạc: Sử dụng tài liệu để nắm bắt phương pháp phối hợp giữa thị phạm và gợi mở, kỹ thuật xử lý hơi thở theo từng phong cách âm nhạc từ cổ điển thế kỷ XVII đến hiện đại thế kỷ XX, và phương pháp biên soạn giáo án cho từng loại giọng.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Âm nhạc học và Lý luận - Phương pháp dạy học Âm nhạc: Tham khảo cách thức thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa lịch sử âm nhạc, sư phạm học nghệ thuật và phương pháp tổ chức thực nghiệm sư phạm chuyên ngành.
  • Cán bộ quản lý đào tạo tại các nhạc viện, nhà hoạch định chính sách của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, quy hoạch phân dòng chương trình đào tạo đại học và chuẩn hóa tiêu chuẩn giảng viên nghệ thuật trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW.

Những phần có giá trị tham khảo cao nhất gồm: bức tranh tổng thuật lịch sử sư phạm bel canto châu Âu (Chương 1), khung chuẩn hóa năng lực giảng viên và quy trình thực nghiệm sư phạm dạy học tích cực (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa kỹ thuật thanh nhạc của trường phái Bel canto gồm những đặc điểm cốt lõi nào?
Luận án xác định bel canto có nghĩa là "cách hát đẹp" xuất phát từ Ý vào thế kỷ XVII. Đặc điểm cốt lõi gồm: hát liền âm (legato/cantilena) trau chuốt, san bằng các âm khu của giọng hát, trau chuốt âm khu trung với độ tròn trịa của nguyên âm; các nốt cao không hát quá to mà tô điểm nhẹ nhàng; kiểm soát hơi thở tinh tế, làm chủ màu sắc âm thanh, ngân rung tự do, thực hiện thuần thục các kỹ xảo hoa mỹ (staccato, trillo, passage, martellato, portamento).

2. Quá trình phát triển các kiểu thở trong thanh nhạc phương Tây được luận án phân tích như thế nào qua các thời kỳ?
Văn bản phân tích sự dịch chuyển của 5 kiểu thở: Thế kỷ XVII – XVIII thịnh hành kiểu thở ngực phù hợp với giọng castrato, âm lượng nhỏ và phòng hòa nhạc nhỏ. Sang thế kỷ XIX, quy mô dàn nhạc và nhà hát mở rộng đòi hỏi âm thanh lớn, dẫn đến việc áp dụng kiểu thở ngực – sườn và ngực – bụng. Đối với các giọng trung trầm cần âm thanh dày, kiểu thở bụng được áp dụng. Sang thế kỷ XX, trước đòi hỏi phức tạp của tác phẩm, hơi thở có xu hướng phối hợp toàn diện qua kiểu thở Yoga nhằm tạo sự linh động tối đa của cơ thể và giải phóng hoàn toàn các nhóm cơ phát âm.

3. Hạn chế lớn nhất trong hệ thống giáo trình thanh nhạc đại học ở Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu là gì?
Hạn chế lớn nhất là tình trạng "đồng nhất hóa", tức sử dụng chung một khung chương trình và giáo trình cho tất cả các đối tượng sinh viên đại học mà không phân dòng chuyên sâu cho hát opera, hát thính phòng hay hát ca khúc. Các giáo trình hiện hành chủ yếu tập trung vào tác giả thế kỷ XVIII – XIX, thiếu tác phẩm thế kỷ XVII, thế kỷ XX và dân ca các vùng miền; giáo trình có ứng dụng công nghệ thông tin đã được nghiệm thu nhưng chưa được đưa vào giảng dạy thực tế.

4. Việc rút ngắn thời gian đào tạo đại học từ 5 năm xuống 4 năm gây ra khó khăn gì cho đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp?
Việc cắt giảm một năm học làm thu hẹp quỹ thời gian rèn luyện kỹ thuật cơ bản và tích lũy tác phẩm của sinh viên. Giảng viên gặp khó khăn trong việc hoàn thành đầy đủ khối lượng kiến thức của chương trình môn học, trong khi sinh viên chịu áp lực lớn để đạt chuẩn đầu ra chuyên môn về kỹ thuật hát opera và thính phòng.

5. Luận án đề xuất những tiêu chí cụ thể nào để chuẩn hóa đội ngũ giảng viên thanh nhạc?
Giảng viên thanh nhạc cần được chuẩn hóa đồng bộ trên ba mặt: năng lực chuyên môn (nắm vững kỹ thuật bel canto, thị phạm được nhiều loại giọng, làm chủ ngoại ngữ Ý, Đức, Pháp, Nga để xử lý văn bản ca từ); nghiệp vụ sư phạm (kết hợp linh hoạt phương pháp thị phạm và gợi mở, hiểu biết cơ chế sinh lý phát âm và tâm lý học); năng lực nghiên cứu khoa học (chủ động tham gia nghiên cứu lý luận, biên dịch tác phẩm nước ngoài và biên soạn giáo trình chuyên ngành).

Kết luận

Luận án tiến sĩ Âm nhạc học của tác giả Lê Thị Minh Xuân là công trình nghiên cứu hệ thống về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp trình độ đại học tại Việt Nam trong giai đoạn mới. Dựa trên việc tổng kết lịch sử sư phạm bel canto châu Âu qua bốn thế kỷ và quá trình hình thành ba cơ sở đào tạo âm nhạc hàng đầu trong nước, tác giả đã chỉ ra những bất cập mang tính cấu trúc về mô hình, chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và chất lượng đội ngũ giảng viên. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào ba trụ cột: chuẩn hóa năng lực giảng viên, đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin, và đa dạng hóa chương trình, giáo trình theo phân dòng chuyên môn hẹp. Các kết quả nghiên cứu và dữ liệu thực nghiệm sư phạm tại Hà Nội và Huế cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.