chương 1……………………………………………………………… 42 Chương 2: Thực trạng và yêu cầu đổi mới đào tạo thanh nhạc chuyên 43 nghiệp. Thực trạng đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp……………………………. Nguyên nhân của những hạn chế trong đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp 67 2. Những quan điểm về yêu cầu đổi mới trong đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp…………………………………………………………………………… 70 Tiểu kết chương 2………………………………………………………….
81 Chương 3: Giải pháp đổi mới đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp……………. Chuẩn hóa đội ngũ giảng viên……………………………………………… 83 3. Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của sinh viên…. Đa dạng hóa chương trình và giáo trình thanh nhạc chuyên nghiệp……….Thực nghiệm sư phạm ………………………………………………….
140 Tiểu kết chương 3 ……………………………………………………………… 144 Kết luận ………………………………………………. 146 Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án……………. Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………. 150 iv GIẢI THÍCH MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 1.
Chuyên nghiệp Đây là danh từ chỉ loại hình nghề nghiệp, chuyên về một lĩnh vực nghề nghiệp nào đó. Chuyên nghiệp còn có nghĩa là làm việc có “tính chuyên nghiệp, chuyên sâu ở mức độ cao. Tính chuyên nghiệp được đánh giá ở các khía cạnh: có kiến thức sâu rộng, có chuyên môn vững vàng và làm việc khoa học, hiệu quả công việc cao. Trong phạm vi của luận án, chúng tôi sử dụng từ chuyên nghiệp theo cả hai nghĩa trên.
Tuy nhiên, ở chương hai và chương 3 của luận án, do không có điều kiện để nghiên cứu tất cả các bậc học nên chuyên nghiệp trong cụm từ “đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp” hay “thanh nhạc chuyên nghiệp” được sử dụng để chỉ đào tạo thanh nhạc bậc đại học tại các học viện âm nhạc và nhạc viện. Mô hình đào tạo Theo Từ điển tiếng Việt, “Mô hình là vật cùng hình dạng, nhưng làm thu nhỏ lại.mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu” [86;638]. Nội hàm của mô hình đào tạo bao gồm các yếu tố: Hình thức đào tạo (chính quy, liên thông, vừa làm vừa học), phương thức đào tạo (tập trung, không tập trung, từ xa… ), quy mô đào tạo, nội dung CT, GT, đội ngũ GV, SV, cán bộ quản lý, PP dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá, cơ sở vật chất.và một số yếu tố khác. Trong luận án này, mô hình được hiểu theo nghĩa này.
Giới hạn nghiên cứu của luận án không nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu tất cả các yếu tố trong nội hàm của mô hình đào tạo thanh nhạc mà chỉ nghiên cứu một số yếu tố cốt lõi. Đa dạng hóa mô hình đào tạo là một trong những giải pháp quan trọng nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp trong giai đoạn mới. Giải pháp này được đề cập đến ở chương 2 và phân tích sâu ở chương 3, cụ thể ở việc đa dạng hóa mục tiêu, nội dung chương trình và giáo trình thanh nhạc chuyên nghiệp. Phương pháp sư phạm thanh nhạc Sư phạm: Chữ sư có nghĩa là thày.
Trong sư phạm, phạm có nghĩa là khuôn thước, mẫu mực. Yêu cầu về sự mẫu mực khuôn thước này phải được đặt ra trước tiên cho người thày. Có thể hiểu, sư phạm là nói đến người thày với sự mẫu mực trong việc truyền đạt kiến thức cho người học. Sư phạm thanh nhạc có nghĩa là công việc giảng dạy của GV về thanh nhạc Phương pháp sư phạm thanh nhạc là cách thức GV giảng dạy sao cho SV phát triển giọng hát, hiểu và thể hiện được đúng phong cách và thể loại, sáng tạo hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm thanh nhạc.
Khuynh hướng sư phạm thanh nhạc Theo Từ điển tiếng Việt, khuynh hướng là “sự thiên về một phía nào đó trong hoạt động, trong quá trình phát triển” [86;517]. Các khuynh hướng SP thanh nhạc ra đời là để giải quyết các vấn đề của trường phái thanh nhạc tương ứng trong từng thời kỳ phát triển. Khuynh hướng SP thanh nhạc thể hiện rõ nét trong các trường phái thanh nhạc châu Âu TK XVII, XVIII, XIX, XX. Ngày nay, những chuẩn mực trong thanh nhạc chuyên nghiệp và các khuynh hướng SP thanh nhạc của những thế kỷ trước vẫn được gìn giữ và phát huy trong các cơ sở đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp ở trên thế giới và VN.
Bel canto Trong cuốn Thuật ngữ âm nhạc của Nguyễn Bách, bel canto được giải thích là “cách hát đẹp” [3;152]. Các GS thanh nhạc cũng cho rằng, bel canto với nghĩa là hát đẹp, “nó không chỉ là mối tương quan hỗ trợ lẫn nhau giữa phần âm nhạc (giai điệu) với lời ca mà nó còn biểu hiện những phẩm chất kỹ thuật đòi hỏi một sự rèn luyện, học tập đầy đủ, nghiêm túc mới có được” [109;109].NSND Nguyễn Trung Kiên, điều đặc biệt của kỹ thuật thanh nhạc trường phái Bel canto là “san bằng các âm khu, âm vực rộng, âm sắc thanh nhã, âm thanh tròn, hỗn hợp trên điểm tựa, giọng hát đầy đặn và âm vang” [49;158]. vi TS Trương Ngọc Thắng cũng có nhận định: “Trường phái thanh nhạc cổ điển Italia vẫn được coi là Trường phái thanh nhạc Bel canto bởi trong tiếng Ý… là phong cách hát nhẹ nhàng, uyển chuyển với trình độ điêu luyện. Xuất hiện từ thế kỷ 17 ở Italia, phát triển rộng rãi ở trong nước và truyền bá rộng rãi ra nước ngoài…” [109;109].
Như vậy, để luyện tập phong cách hát đẹp, người học phải luyện tập hệ thống các kỹ thuật thanh nhạc của trường phái Bel canto. Trong luận án này, bel canto hay phương pháp bel canto được hiểu theo nghĩa là kỹ thuật thanh nhạc của trường phái Bel canto. Giải pháp nâng cao hiệu quả Theo Từ điển Tiếng Việt, giải pháp là “phương pháp giải quyết vấn đề cụ thể nào đó” [86;387], là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động cụ thể. Hiệu quả đào tạo thanh nhạc phụ thuộc chủ yếu vào ba yếu tố năng lực của người dạy, phương pháp dạy và học của GV và SV, chất lượng nội dung chương trình và giáo trình thanh nhạc.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo thanh nhạc là phương pháp, cách thức, chỉ dẫn quá trình thực hiện công việc đào tạo thanh nhạc nhằm đạt hiệu quả cao hơn so với khi chưa tiến hành theo giải pháp đó. Trong luận án này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo theo hướng cách tác động làm nâng cao năng lực của người dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới và phương pháp đổi mới đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp theo hướng đa dạng hóa mục tiêu, nội dung CT, GT thanh nhạc chuyên nghiệp. Thời kỳ Theo Từ điển tiếng Việt, thời kỳ là “khoảng thời gian được phân chia ra theo một sự việc hay sự kiện nào đó” [86;956]. Trong luận án này, chúng tôi sử dụng “thời kỳ” nhằm xác định quá trình hình thành và phát triển một số khuynh hướng sư phạm thanh nhạc (chủ yếu ở châu Âu).
Các thời kỳ âm nhạc trong luận án này được xác định là: TK XVII, XVIII, XIX, XX. TK XXI còn được gọi là “ngày nay”. Giai đoạn mới Phân chia giai đoạn để xác định quá trình hình thành và phát triển của đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp VN: giai đoạn trước năm 1975, giai đoạn sau 1975 và giai đoạn đất nước bước vào công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay (giai đoạn mới). Trong luận án này, giai đoạn mới được nhấn mạnh là giai đoạn giáo dục đào tạo VN bước vào công cuộc đổi mới theo định hướng của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4//11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Và đặc biệt là từ năm 2011, HVANQGVN đã xây dựng và từng bước triển khai thực hiện “ chiến lược phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” hướng tới phát triển bền vững và hội nhập thế giới. Lý do chọn đề tài Nghệ thuật thanh nhạc chuyên nghiệp của thế giới ra đời từ thế kỷ (TK) XVI – XVII và du nhập vào Việt Nam (VN) khoảng nửa đầu TK XX. Quá trình du nhập này đã có những ảnh hưởng nhất định tới đời sống văn hóa tinh thần của người VN và lĩnh vực đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp. Đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp ở VN chính thức được bắt đầu từ năm 1956, với sự ra đời của Trường Âm nhạc VN.
Ngày nay, trong các cơ sở đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp hàng đầu VN phải kể đến Học viện Âm nhạc Quốc gia VN (HVANQGVN), Học viện Âm nhạc Huế (HVAN Huế) và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh (NVTPHCM). Trong chiến lược phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, HVANQGVN đặt trọng tâm vào ba định hướng lớn: “đào tạo tài năng đỉnh cao cho đất nước; đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và đào tạo phổ cập, nâng cao dân trí” [30;1]. Đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp trong giai đoạn mới không nằm ngoài những định hướng trên. Trước định hướng đổi mới lớn đó, công tác đào tạo thanh nhạc tại các học viện âm nhạc và nhạc viện không tránh khỏi lúng túng giữa sự mong muốn duy trì những gì hiện đang có và việc đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới; giữa yêu cầu đổi mới với năng lực đáp ứng sự đổi mới, hướng tới hội nhập khu vực và thế giới.
Trong khi đó, thực tiễn hoạt động biểu diễn thanh nhạc ngoài xã hội đang diễn ra sôi động và tương đối phức tạp. Có xu hướng biểu diễn “chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí.”, “Tình trạng nghiệp dư hóa các hoạt động văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên” [19;2] dẫn đến sự sa sút trong thưởng thức thẩm mỹ của công chúng. Hoạt động biểu diễn của đội ngũ ca sĩ không chuyên mới chỉ dừng lại ở chức năng giải trí, có lúc, có nơi còn có những biểu hiện lệch lạc làm xấu bức tranh toàn cảnh của nền thanh nhạc VN. Mặt khác, đội ngũ ca sĩ chưa thực sự đủ bản lĩnh, trình độ để góp phần định hướng thẩm mỹ nghệ thuật cho công chúng, thực hiện tốt vai trò phục vụ 2 xã hội với những tác phẩm đỉnh cao của nghệ thuật thanh nhạc.
Hiện tượng ca sĩ chuyên nghiệp thử nghiệm ở dòng nhạc thị trường, giải trí, làm nảy sinh hiện tượng nghiệp dư hóa trong biểu diễn thanh nhạc chuyên nghiệp. Trong các chương trình (CT) ca nhạc trên sóng phát thanh truyền hình, CT truyền hình trực tiếp, tụ điểm ca nhạc. đều thấy sự xuất hiện dày đặc của ca khúc, trong đó tỉ lệ ca khúc mới chiếm số lượng đáng kể.