Chương 1: Cơ sở l luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Sở Giáo d c và Thể thao Tỉnh Cham Pa Sa , Lào. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Sở Giáo d c và Thể thao Tỉnh Cham Pa Sa , Lào. Luan van 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ UẬN V N NG C O C ẤT Ƣ NG NGU N N N ỰC TRONG TỔ C ỨC 1.
ột số khái niệm cơ bản 1. u Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người. Trong đó, nhân lực là sức người, sức lao động hay sức mạnh cá thể của con người. Nói cách hác, đây là tổng thể các nguồn lực trong mỗi con người cấu thành nãng lực làm việc của con người, được con người sử d ng trong quá trình lao động.
Nhân lực chỉ một cá nhân người lao động c thể còn nguồn nhân lực lại chỉ một tập hợp người có vai trò hác nhau, được liên ết với nhau theo các m c tiêu đã xác định. Hiện nay có nhiều quan niệm về hái niệm nguồn nhân lực, do cách tiếp cận rộng, hẹp hác nhau. Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Khái niệm này chỉ xem xét nguồn nhân lực ở dạng tiềm năng, tức là số lao động có thể thu hút, cung cấp được để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai cho sự phát triển chung.
Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm (gồm cả những người trên tuổi lao động thực tế đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do những nguyên nhân khác nhau (đang đi học, đang thất nghiệp, đang làm công việc nội trợ trong gia đình hoặc không có nhu cầu việc làm). Khái niệm nguồn nhân lực ở phạm vi rộng, tức là ở phạm vi xã hội đề cập đến độ tuổi và trạng thái có làm việc hay hông của nguồn nhân lực còn nguồn nhân lực của tổ chức đương nhiên phải làm việc trong tổ chức đó. Tuy nhiên hái niệm nguồn nhân lực của tổ chức lại ít đề cập đến độ tuổi lao động Luan van 9 của nguồn nhân lực. phạm vi tổ chức, c ng có nhiều hái niệm hác nhau về nguồn nhân lực.
C thể, theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực” [5, tr. Khái niệm này há c thể và dễ hiểu nhưng hạn chế ở chỗ cho rằng các nguồn lực trong một con người chỉ bao gồm thể lực và trí lực. Thiếu đi yếu tố tâm lực - một yếu tố hết sức quan trọng hình thành nên nhân lực, mà theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “có tài mà hông có đức thì vô d ng”. Theo Trần Kim Dung, nguồn nhân lực của tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định [6, tr.
Tóm lại, tùy theo góc độ tiếp cận mà có những hái niệm hác nhau. Tuy nhiên, các hái niệm này đều có những đặc điểm chung và từ các đặc điểm chung đó cùng với cách hiểu về nguồn nhân lực như nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu c thể này, hái niệm nguồn nhân lực có thể hiểu như sau: nguồn nhân lực trong tổ chức là tổng thể tất cả lực lượng nhân lực được xác định bởi số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động đủ điểu kiện tham gia vào quá trình hoạt động của tổ chức đó. Tất nhiên là ở mỗi một tổ chức thì yêu cầu NNL phải hác nhau, hi đó cần phải có những tiêu chí để đánh giá nội hàm chất lượng NNL ở các hía cạnh tâm lực- thể lực - trí lực, c ng như yêu cầu về số lượng và cơ cấu. t u Hiện nay, hái niệm về chất lượng nguồn nhân lực c ng có nhiều quan điểm hác nhau.
Nguyễn Hữu Thân định nghĩa rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức hỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn ĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, ĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã Luan van 10 hội (gồm hả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc, v. phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [30, tr. Trong hi đó, Đình Phúc và Khánh Linh (2007) định nghĩa “CLNNL là mức độ đáp ứng về hả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi m c tiêu c ng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” [23, tr. Hay, Nguyễn Thanh Hội (2001) cho rằng “CLNNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và ĩ năng của người lao động c ng như sức hỏe của họ” [11, tr.
Còn theo Trần Kim Dung (2018), CLNNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức hỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất, tức là, việc đánh giá CLNNL được tác giả “xem xét trên các mặt” chứ hông coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có, do đó, có thể có mặt “được xem xét”, có mặt “chưa được xem xét” và có thể có mặt “ hông được xem xét” đến [6, tr. Như vậy, hái niệm chất lượng nguồn nhân lực có nhiều cách nhìn nhận đánh giá hác nhau do cách tiếp cận hác nhau và là một yếu tố để đánh giá nguồn nhân lực. Tuy nhiên, có thể hiểu một cách tổng quát rằng, chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực và thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, bao gồm: (1) Trí lực (năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn hả năng lao động sáng tạo của con người). t u Thuật ngữ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” hàm chỉ một loạt các hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng nguồn nhân lực tăng lên so với chất lượng nguồn nhân lực hiện có.
Đó là những biểu hiện gia tăng về iến thức, ỹ năng và thái độ làm việc của các nhân mỗi người lao động. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một mặt tạo ra nguồn nhân lực có hả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử d ng nguồn nhân lực chất lượng trong quá trình phát triển inh tế xã hội trong quá trình hội nhập inh tế quốc tế, một mặt hác tạo ra nguồn nhân lực tự tin hơn trong quá trình làm việc, tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho xã hội và tạo ra hả năng cạnh tranh bền vững nhất. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức là tổng thể các nội dung, tổng thể các cách thức, phương pháp làm biến đổi các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực theo hướng phát triển một cách hợp l về quy mô, về trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu về m c tiêu phát triển của tổ chức. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nâng cao giá trị con người cả về vật chất, tinh thần cả về trí tuệ lẫn tâm hồn c ng như ỹ năng nghề nghiệp làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực phẩm chất mới cao hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển của tổ chức.
Từ quan điểm này, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, học viên cho rằng: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức là việc thực hiện các biện pháp làm gia tăng mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của nguồn nhân lực trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể của tổ chức đó. Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguôn nhân lực trong tổ chức Các l thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền inh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba tr cột cơ bản: áp d ng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng inh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát triển, có ỹ năng, iến thức, tay nghề, inh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”. ởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp l thuận lợi cho đầu tư, có môi trường chính trị - xã hội ổn định.
Theo Tổ chức y tế thế giới: sức hỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ hông chỉ là hông có bệnh hay thương tật. Còn theo Philippus Paracelsus, nhà vật l học người Đức ở thế ỷ 15, người được coi là cha đẻ của nền y học hiện đại đã nói rằng: Tinh thần là người chủ, trí tưởng tượng là công c và cơ thể là nguyên liệu mềm dẻo. Như vậy, sức hỏe gồm sức hỏe cơ thể và sức hỏe tinh thần. Sức hỏe cơ thể là sự cường tráng, là hả năng mang vác, lao động chân tay.
Sức hỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần inh, là hả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động.