mở đầu dẫn dắt, phần trình bày do người hát thể hiện từ đầu đến cuối theo hình thức tác phẩm. Dạo giữa hay cầu nối (Episode hay Interlude): Sau khi người hát đã hoàn thành phần trình bày, cầu nối hay dạo giữa xuất hiện để liên kết các 12 đoạn nhạc. Dạo giữa có nhiệm vụ tổng kết phần trình bày hay đưa ra các nhân tố âm nhạc mới nhằm báo hiệu cho người hát chuẩn bị hát phần tiếp theo. Tái hiện (Reproduction): Trong bài hát mầm non, phần tái hiện được hát lại cả bài hoặc có thêm điệp khúc.
Tái hiện có thể tạo nên sự khác biệt với phần trình bày. Ending (Nhạc kết): Có ý nghĩa tổng kết toàn bộ các nội dung trước đó thể hiện… 1. Ca khúc Ca khúc là bản nhạc có lời được viết theo hình thức, cấu trúc âm nhạc hoàn chỉnh, độc lập. Đặc điểm của ca khúc là có lời ca.
Lời ca giúp cho người nghe dễ tiếp thu tác phẩm, có giai điệu rõ ràng. Gamme, Etude, Hòa thanh/hòa âm Theo sách Lý thuyết âm nhạc cơ bản của tác giả Phạm Tú Hương: “Sự sắp xếp bảy âm thanh của điệu thức từ âm chủ (bậc I) đến âm chủ ở quãng tám tiếp theo thứ tự từ thấp lên cao hay từ cao xuống thấp tạo thành gamme” [14, tr. Gamme là hình thức sắp xếp các âm của điệu thức theo thứ tự từ thấp đến cao, từ âm chủ đến âm chủ. Có gamme đi lên và gamme đi xuống.
Theo tác giả Phạm Lê Hòa viết trong cuốn Phân tích tác phẩm: “Ban đầu etude là khúc nhạc được viết cho một nhạc cụ nhất định luyện tập một hoặc vài kỹ xảo nào đó” [13, tr. Hòa thanh/hòa âm (hamony) theo tác giả Phạm Lê Hòa: “Hòa thanh là khoa học về sự hòa hợp/nối tiếp giữa các âm/chồng âm trong một tác phẩm âm nhạc” [13, tr.TS Nguyễn Thị Nhung: “Xây dựng hòa thanh cho phần đệm là công việc tạo dựng nền móng quan trọng đầu tiên trong soạn đệm. Hòa thanh quyết định phần lớn về độ dày, về sự hỗ trợ phần hát và màu sắc của phần đệm nên phải có sự lựa chọn và kiểm tra kỹ lưỡng” [18]. Phương pháp và phương pháp dạy học Trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người luôn tìm cách làm cho hoạt động của mình ngày càng trở nên nhẹ nhàng hơn, đỡ tốn kém sức lực, thời gian mang lại hiệu quả cao hơn.
Điều đó dẫn đến nhu cầu xuất hiện về phương pháp trong cuộc sống. Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “Methodos”, có nghĩa là con đường để đạt mục đích dạy học. Trong cuốn Từ điển Tiếng việt xuất bản năm 1999, các tác giả đã khẳng định “ Phương pháp là cách thức đề cập đến hiện thực, nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội”, “Là khoa học về quy luật chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy” [6, tr. Nhìn chung khi đề cập đến phương pháp là đề cập đến cách thức, con đường mà chủ thể sử dụng để tác động đến đối tượng nhằm đạt mục đích đề ra.
Phương pháp dạy học (Teaching methods) là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học. Phương pháp dạy học là hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học. Như vậy, phương pháp dạy học có nghĩa là cách thức, con đường hoạt động của thầy, nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan khoa học và nhân cách. Trong “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) đưa ra khái niệm “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [19].
Như vậy, nghĩa chung nhất của biện pháp là cách làm để thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. 14 Để hiểu rõ hơn khái niệm biện pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một số khái niệm tương tự như phương pháp, giải pháp, cách thức. Điểm giống nhau của các khái niệm này là đều nói về cách làm, cách tiến hành một công viêc. Tuy vậy, giữa các khái niệm cũng có những điểm khác nhau.
Biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể. Phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau (tạo nên một hệ thống) để tiến hành một công việc có mục đích. Trong “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) giải thích: “Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó” [19]. Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng của Nguyễn Văn Đạm cũng cho rằng: “Phương pháp là trình tự cần theo trong những bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một việc có mục đích nhất định” [7].
Về khái niệm giải pháp, tác giả Hoàng Phê nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề. Tác giả Nguyễn Văn Đạm nhấn mạnh ý khắc phục khó khăn. Tuy vậy, khái niệm giải pháp không chỉ nói đến cách hành động mà còn nói đến tư tưởng hành động. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Đạm cho rằng: “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [7].
Về khái niệm cách thức, tác giả Nguyễn Văn Đạm quan niệm đó là đường lối phải theo để làm một việc gì đó. Tóm lại, khái niệm biện pháp có những điểm giống so với các khái niệm nói trên, song cũng có điểm riêng là nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể để thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. Biện pháp phải xuất phát từ các giải pháp và sử dụng các phương pháp cụ thể. Khái quát đàn phím điện tử 1.
Lịch sử ra đời đàn phím điện tử Với sự phát triển của công nghệ âm thanh điện tử thế kỷ XX, các chuyên gia âm thanh - âm nhạc điện tử và các hãng nhạc cụ đã áp dụng và phát triển 15 kỹ thuật điện tử cho cây đàn phím điện tử. Sự khuếch đại các làn sóng âm thanh theo hệ thống điện tử đã bảo đảm được cường độ âm lượng to lớn cần thiết cùng với khả năng tạo ra những âm sắc đặc biệt độc đáo (Âm thanh điện tử, âm thanh vũ trụ, các hiệu ứng âm thanh như tiếng gió hú, tiếng sóng biển, giọng hát của con người, dàn hợp xướng…). Đồng thời, đàn phím điện tử còn mô phỏng được rất nhiều loại nhạc cụ khác nhau từ các loại nhạc cụ phương Tây như Piano, Organ nhà thờ, Guitar điện và Guitar Acoustic, Violon, Violoncello, dàn dây (Strings), Trống định âm, bộ Gõ giao hưởng… tới các nhạc cụ dân tộc như Tranh, Bầu, Sáo trúc, bộ Gõ dân tộc và nhiều nhạc cụ của các dân tộc trên thế giới. Đàn phím điện tử thông thường có dạng bàn phím piano với những kiểu cách, chủng loại và kích cỡ khác nhau để phù hợp với mọi nơi, mọi chỗ từ phòng nhỏ cho đến hội trường lớn, nhà thờ hoặc nhà hát… Về nguyên tắc tạo âm, đàn phím điện tử là sự tổng hợp của một loạt các chìa khóa (nút Voice/Sound) mở ra âm thanh.
Khi những chìa khóa (nút) trên phím đàn được ấn xuống, nó kích hoạt một loạt máy giao động (được sản xuất bằng tín hiệu điện tử), những máy giao động đó phải đi qua bộ khuếch đại tới loa phóng thanh và cho dạng âm thanh mà ta cần. Với cách làm đó, đàn phím điện tử có thể mô phỏng âm sắc của nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Tham khảo bài báo trên trang 14 Tạp chí Giáo dục năm 1999, trang 15 năm 2005 của tác giả Trịnh Hoài Thu: “Maurice Martenot là nhạc sĩ - Kỹ sư người Pháp (1898 - 1980), ông đã phát minh ra nhạc cụ gọi là “Sóng Martenot” (Ondes Martenot) hay còn gọi là “Sóng nhạc” (Ondes musical) năm 1928. Nhạc cụ này có một bàn phím tương tự bàn phím piano và một ngân hàng máy giao động nối tới máy khuếch đại và loa phóng thanh.
Âm vực của sóng Martenot khá rộng tới bảy quãng 8 và có thể biểu diễn thoải mái từ ppp cho đến fff. Âm thanh cũng có thể biến đổi bởi một thiết bị “dải băng” đặc biệt và tạo nên một thứ âm thanh rất khác lạ”. 16 Có thể nói, sự ra đời của Sóng Martenot đã khởi điểm cho sự phát triển rộng rãi của nhạc cụ điện tử sau này, nhất là đàn phím điện tử mà tiêu biểu phải kể đến Organ Hammond được phát minh năm 1934 ở Mỹ. Đây là nhạc cụ điện tử đặc biệt với những phím đàn lớn, một bàn phím pedal và một số các phím bấm hoặc cũng có khi chỉ là hai hàng phím nhỏ.
Đàn phím điện tử rất thích hợp cho loại nhạc bình dân (Popular music) bởi vì tính gọn nhẹ, linh hoạt và dễ sử dụng. Đàn phím điện tử hay còn gọi là Electronic Keyboard, ở Việt Nam hay gọi là đàn Organ, đó là sự kết hợp giữa âm nhạc với những bước tiến trong công nghệ kỹ thuật số, âm thanh điện tử. Với đàn phím điện tử chúng ta có trong tay cả một dàn nhạc với nhiều âm sắc mô phỏng lại âm thanh nhạc cụ thật, âm hình tiết tấu phong phú. Đàn phím điện tử giữ vai trò quan trọng trong nền âm nhạc hiện đại như nhạc Pop, Rock… Qua quá trình phát triển của lịch sử cây đàn phím điện tử đã trải qua những bước dài và đã cải tiến, phát triển những tính năng ưu việt và hiện đại của nó.
Ở Việt Nam, cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, đàn phím điện tử bắt đầu trở nên phổ biến và thông dụng hơn khi đời sống văn hoá nghệ thuật được chú trọng. Đàn phím điện tử được cho là một công cụ rất hữu ích và đa dụng, những người đầu tiên phát hiện ra tiện ích và ưu điểm đa số là các nghệ sĩ chơi piano và accordion. Những người giảng dạy đàn phím điện tử đầu tiên thường là những lớp người trưởng thành từ chuyên ngành accordion, vận dụng những kinh nghiệm thực tiễn để biên soạn từ sách vở, giáo trình của đàn piano, accordeon nước ngoài với dân ca, ca khúc Việt Nam từ đơn giản đến phức tạp. Sự phổ biến rộng rãi của đàn phím điện tử đã thúc đẩy nhu cầu học loại nhạc cụ này thành một trào lưu mạnh mẽ vào sau những năm 90 đến nay.
Với công chúng, đàn phím điện tử có một lợi thế là dễ dàng tiếp nhận những kiến 17 thức âm nhạc phổ cập, cuốn hút, dễ hình dung, dễ sử dụng và dễ học hơn piano về tính phổ cập và kinh tế. Tính năng có bản Standby/On: Bật, tắt đàn.