Tổng quan về luận án
Bối cảnh khoa học của công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc (mã số 9140111) của tác giả Nguyễn Thanh Tiến, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Trọng Toàn (Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, 2022), khởi nguồn từ đòi hỏi cấp thiết của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và đổi mới căn bản giáo dục đại học sư phạm nghệ thuật. Trong kho tàng âm nhạc cổ truyền Việt Nam, dân ca nghi lễ Hát thờ (NLHT) của người Việt vùng trung du và châu thổ sông Hồng—tiêu biểu là Hát Xoan (Phú Thọ), Hát Dô (Quốc Oai, Hà Nội) và Hát Dậm (Kim Bảng, Hà Nam)—đại diện cho những lớp trầm tích văn hóa cổ xưa nhất, hàm chứa các thành tố âm nhạc cốt lõi hình thành từ thời kỳ dựng nước Văn Lang. Tuy nhiên, một nghịch lý học thuật kéo dài là hệ thống di sản lễ nhạc này chưa từng được chuẩn hóa thành một chương trình giảng dạy độc lập, hoàn chỉnh theo tiếp cận năng lực tại các cơ sở đào tạo giáo viên âm nhạc bậc đại học.
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ KHUNG LÝ THUYẾT TRUNG TÂM │
│ Thuyết Khuếch tán Văn hóa & Trung tâm - Ngoại vi │
│ (L. Frobenius, Clark Wissler) │
└──────────────────────────┬─────────────────────────────┘
│
┌─────────────────────┴─────────────────────┐
▼ ▼
┌──────────────────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────────────────┐
│ ÂM NHẠC HỌC CỔ TRUYỀN │ │ LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC │
│ - Điệu thức ngũ cung (Ghi-rơ-sman) │ │ - Dạy học phát triển năng lực │
│ - Thang âm 5 âm đúng (Vũ Nhật Thăng) │ │ - Tiếp cận tích hợp & hoạt động │
│ - Cấu trúc 3 chặng diễn xướng │ │ - Mô hình tương tác sư phạm đa chiều │
└──────────────────────┬───────────────────┘ └───────────────────┬──────────────────────┘
│ │
└─────────────────────┬─────────────────────┘
▼
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ HỆ THỐNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ │
│ Định hướng chuẩn đầu ra Chương trình GDPT 2018 │
│ Thực nghiệm trên sinh viên ĐHSP Âm nhạc │
└────────────────────────────────────────────────────────┘
Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) được xác định rõ nét: các công trình trước đây của Tú Ngọc (1997), Cao Khắc Thùy (2011), Trần Bảo Hưng và Nguyễn Đăng Hòe (1977), Tân Huyền và Sơn Tùng (1958) chủ yếu tập trung vào khảo sát dân tộc nhạc học thuần túy, mô tả phong tục hoặc ký âm rời rạc; trong khi các đề án của Phạm Lê Hòa (2009) hay luận văn của Trần Thị Kim Thăng (2012), Giáp Văn Thịnh (2014) chỉ dừng lại ở phạm vi ngoại khóa cục bộ tại các trường cao đẳng hoặc tiểu học. Chưa có một công trình nào giải mã cấu trúc liên hệ cội nguồn giữa các thể loại hát thờ vùng đồng bằng - trung du Bắc Bộ dưới lăng kính lý thuyết "Trung tâm và ngoại vi", đồng thời thiết kế quy trình chuyển di sư phạm (pedagogical transposition) vào chương trình đào tạo Cử nhân Sư phạm Âm nhạc nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Luận án thiết lập 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Vì sao cần dạy học lịch sử và thực hành 3 thể loại dân ca NLHT (Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm) cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc?
- Dạy học dân ca NLHT có những đặc thù bản thể và phương pháp luận gì khác biệt so với dạy học dân ca đối đáp giao duyên nói chung?
- Mối quan hệ cấu trúc âm nhạc, thang âm điệu thức và không gian văn hóa giữa Hát Xoan (trung tâm) và Hát Dô, Hát Dậm (ngoại vi) được xác lập như thế nào?
- Thực trạng dạy học dân ca NLHT tại cơ sở đào tạo đại học sư phạm (khảo sát điển hình tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên) đang bộc lộ những rào cản và khiếm khuyết nào?
- Cần xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ nào (từ cấu trúc chuyên đề, tuyển chọn bài bản, phương pháp luyện giọng đến kiểm tra đánh giá) để tối ưu hóa năng lực diễn xướng và năng lực sư phạm của sinh viên?
Giả thuyết khoa học của luận án: Dạy học dân ca NLHT cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc tại các trường đại học sư phạm hiện còn nặng tính truyền khẩu thụ động, thuyết trình một chiều và phân tán. Nếu xây dựng được khung chuyên đề tích hợp, tuyển chọn bổ sung hệ thống bài bản đặc trưng, kết hợp đổi mới quy trình kỹ thuật thanh nhạc dân gian theo định hướng phát triển năng lực và gắn kết thực tiễn di sản, thì sẽ tạo ra bước chuyển biến đột phá về chất lượng đào tạo, trang bị cho sinh viên cả kỹ năng biểu diễn chuẩn xác lẫn năng lực dạy học âm nhạc truyền thống cho học sinh phổ thông.
Khung lý thuyết nền tảng tích hợp ba trụ cột:
- Lý thuyết "Trung tâm và ngoại vi" (Center-Periphery Theory) trong không gian văn hóa của trường phái Truyền bá luận Tây Âu (L. Frobenius, Clark Wissler; được Ngô Đức Thịnh vận dụng tại Việt Nam).
- Lý thuyết cấu trúc điệu thức âm nhạc ngũ cung của Ghi-rơ-sman và lý thuyết điệu thức năm âm đúng của Vũ Nhật Thăng.
- Lý luận dạy học đại học hiện đại và lý thuyết dạy học phát triển năng lực (Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Thành Hưng, I.Ya. Lerner, Nguyễn Văn Cường).
Đóng góp đột phá của luận án được lượng hóa thông qua việc tái cấu trúc chương trình thực nghiệm trên 100% sinh viên lớp K21 ngành Sư phạm Âm nhạc, Khoa Giáo dục Nghệ thuật - Trường Đại học Sư phạm (Đại học Thái Nguyên), nâng tỷ lệ sinh viên đạt kỹ năng thể hiện sắc thái và lề lối diễn xướng chuẩn mực từ dưới 15% lên trên 85% sau thực nghiệm, mở ra hướng tiếp cận học thuật chuẩn mực cho hệ thống sư phạm âm nhạc cả nước.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu lịch sử và âm nhạc học quốc tế chứng minh rằng hình thức dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng tôn giáo là tầng bậc sơ khai nhất của nghệ thuật âm thanh nhân loại. Nguyễn Xinh (Lịch sử âm nhạc thế giới) và các tài liệu khảo cổ học chỉ ra rằng từ thời nguyên thủy, âm nhạc đã gắn liền với các vũ điệu săn bắn, nghi thức hiến tế và bái vật giáo.
Trong lịch sử phương Tây, triết học cổ đại Hy Lạp qua các trước tác của Platon (Cộng hòa) và trường phái Pythagoras (khoảng 572 - 500 TCN) đã ghi nhận việc sử dụng âm nhạc trong không gian lễ nghi thanh tẩy tâm hồn và ngợi ca thần linh. Các thể loại thanh nhạc nghi lễ Hy Lạp cổ đại như fren (thanh nhạc dùng cho tang lễ và tế tự tôn giáo), péan (khúc khải hoàn ca ngợi thần Apollo và nữ thần Athena), hay difiramb (khúc ca ngợi thần Dionysus/Bakh) hoàn toàn tương đồng về mặt công năng xã hội với dân ca nghi lễ của người Việt.
Tương tự, tại phương Đông, lịch sử âm nhạc Trung Quốc thời kỳ Ân - Thương và Tây Chu ghi nhận sự phân định rạch ròi giữa Tản nhạc (nghệ thuật ca múa dân gian gắn với ma thuật, phù chú của bà mo, thầy cúng) và Nhã nhạc (lễ nhạc cung đình). Tập Kinh thi gồm 305 thiên ca dao cổ và các ghi chép về nhạc họ Cát Thiên ("ba người nắm đuôi trâu, dậm chân mà hát tám khúc") minh chứng rằng ca múa nghi lễ nông nghiệp và thờ cúng tổ tiên luôn là cái nôi sản sinh ra các thang âm điệu thức bản địa.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về dân ca nghi lễ đã hình thành nên hai luồng quan điểm học thuật chính nhưng tồn tại nhiều điểm tranh biện:
Luồng thứ nhất, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian như Tú Ngọc (1958, 1997) với công trình kinh điển Hát Xoan dân ca lễ nghi - phong tục, Cao Khắc Thùy (2011) với Hát Xoan - Hát Ghẹo dấu ấn một chặng đường, Trần Bảo Hưng và Nguyễn Đăng Hòe (1977) với Hát Dô, Hát Chèo tàu, Tân Huyền và Sơn Tùng (1958), Trọng Văn (1998), Lê Hữu Bách (2010) với các chuyên khảo về Hát Dậm Quyển Sơn. Nhóm tác giả này có xu hướng gộp chung khái niệm thành "dân ca lễ nghi - phong tục" hoặc "dân ca nghi lễ phong tục", xem nhẹ sự phân tách về mặt cấu trúc bản thể giữa phần nghi lễ bái thần tối thượng và phần hội hát giao duyên giải trí thế tục.
Luồng thứ hai, nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Loan (Lược sử âm nhạc Việt Nam, 1993; Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, 2006) đã phân định rạch ròi giữa hai phân hệ: "dân ca lễ nghi tín ngưỡng" và "dân ca nghi lễ phong tục". Luận án của Nguyễn Thanh Tiến kế thừa trực tiếp quan điểm của Nguyễn Thụy Loan, định danh chính xác khái niệm "Dân ca nghi lễ Hát thờ" để khu biệt những thể loại còn duy trì không gian thiêng trước bàn thờ thần linh (như Hát Xoan tại miếu Lãi Lèn, Hát Dô tại đền Khánh Xuân thờ Tản Viên Sơn Thánh, Hát Dậm tại đền Trúc thờ Lý Thường Kiệt).
| Tiêu chí So sánh |
Nghiên cứu Dân tộc Nhạc học Cổ điển (Tú Ngọc, Trần Bảo Hưng, Lê Hữu Bách) |
Đề án Giáo dục Dân ca Phổ thông (Phạm Lê Hòa, 2009; Trần Ánh Tuyết, 2013) |
Luận án Nguyễn Thanh Tiến (2022) |
| Hệ hình lý thuyết |
Khảo cứu lịch sử, dân tộc học, miêu tả hình thái âm nhạc đơn lẻ |
Phương pháp giáo dục đại trà, đưa bài bản đơn giản vào trường phổ thông |
Tích hợp liên ngành: Thuyết Trung tâm - Ngoại vi + Ngũ cung Ghi-rơ-sman + Sư phạm năng lực |
| Phạm vi đối tượng |
Từng làng xã di sản riêng biệt (Phú Thọ, Quốc Oai hoặc Hà Nam) |
Học sinh tiểu học, THCS hoặc sinh viên cao đẳng không chuyên |
Sinh viên đại học sư phạm chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc |
| Phương thức đào tạo |
Nghệ nhân truyền khẩu dân gian trực tiếp |
Hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ âm nhạc học đường |
Chuẩn hóa chương trình chính khóa, tích hợp lý thuyết - thực hành - phương pháp dạy học |
| Công cụ phân tích |
Ký âm định tính phương Tây truyền thống |
Trình diễn ca khúc phổ cập |
Phân tích cấu trúc điệu thức 5 âm, âm tựa quãng 4-5, kỹ thuật thanh nhạc mở buồng vang |
Vị thế học thuật của luận án được xác lập vững chắc: đây là công trình đầu tiên liên kết ba vùng di sản Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm vào một chỉnh thể không gian văn hóa duy nhất dọc lưu vực sông Lô - sông Hồng - sông Đáy, giải mã sự biến thiên hình thái âm nhạc từ cái nôi trung tâm Văn Lang tỏa ra châu thổ, đồng thời thiết lập mô hình lý luận dạy học đại học hoàn chỉnh cho chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã mở rộng và làm sâu sắc thêm ba lý thuyết khoa học nền tảng trong bối cảnh âm nhạc học và sư phạm nghệ thuật Việt Nam:
Mở rộng Thuyết "Trung tâm và Ngoại vi" trong không gian văn hóa âm nhạc: Vận dụng luận điểm của Clark Wissler và L. Frobenius (trường phái Diffusionism) kết hợp với công trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh, luận án chứng minh Phú Thọ thời kỳ Hùng Vương chính là "trung tâm văn hóa" cổ xưa nhất. Hát Xoan ra đời tại trung tâm này, tích hợp các yếu tố tín ngưỡng vật linh (animism), tô-tem giáo và tín ngưỡng phồn thực nông nghiệp lúa nước.
Theo dòng thiên di lịch sử dọc theo các triền sông, các làn điệu và cấu trúc nghi thức của Hát Xoan đã lan tỏa mạnh mẽ tới các vùng ngoại vi chuyển tiếp tại xứ Đoài (hình thành nên Hát Dô Liệp Tuyết - Quốc Oai thờ thần Tản Viên) và vùng đồng bằng châu thổ sông Đáy (hình thành nên Hát Dậm Quyển Sơn - Kim Bảng thờ Lý Thường Kiệt). Luận án xác lập mệnh đề khoa học: Dân ca nghi lễ Hát thờ vùng trung du và châu thổ sông Hồng mang tính thống nhất cao trong sự đa dạng về phong cách diễn xướng địa phương.
Cụ thể hóa Lý thuyết Âm nhạc Ngũ cung của Ghi-rơ-sman và Điệu thức năm âm đúng của Vũ Nhật Thăng: Dân ca NLHT thuộc tầng âm nhạc ngũ cung không bán âm, vận hành dựa trên hệ thống ba điểm tựa âm thanh: "điểm tựa cao - điểm tựa giữa - điểm tựa thấp". Cấu trúc giai điệu được hình thành từ khung điểm tựa âm điệu quãng 4 và quãng 5. Hai âm phụ nằm trong khung quãng 5 và một âm nằm trong khung quãng 4 có xu hướng giao biến điệu thức và hút mạnh về các âm gốc (chủ âm). Lối triển khai giai điệu xoay quanh trục âm gốc trên trước khi hạ dần về trục âm gốc dưới, tạo nên tính chất trang nghiêm, cổ kính, thoát tục đặc trưng của không gian hành lễ.
[Điểm Tựa Cao]
│
│ (Tương quan Quãng 4 / Quãng 5)
▼
[Điểm Tựa Giữa] ◄── [Âm gốc / Chủ âm trung tâm]
│
│ (Hút về âm ổn định)
▼
[Điểm Tựa Thấp]
Định hình Mô hình Chuyển dịch Sư phạm trong Giáo dục Dân ca Cổ truyền: Luận án đã thách thức quan niệm truyền thống cho rằng âm nhạc dân gian chỉ có thể truyền khẩu tự phát. Dựa trên lý thuyết dạy học đại học của Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt và Đặng Thành Hưng, tác giả đã chuyển hóa tri thức di sản thành hệ thống tri thức sư phạm (pedagogical content knowledge), thiết lập mối quan hệ biện chứng giữa ba đỉnh: Giảng viên (chủ đạo) - Sinh viên (chủ động, tích cực) - Di sản âm nhạc cổ truyền (đối tượng chiếm lĩnh).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự liên kết đa tầng giữa ba thành tố: Cấu trúc Âm nhạc học - Không gian Văn hóa Xã hội - Năng lực Sư phạm.
Khung khổ này chia tiến trình diễn xướng thành 3 chặng kinh điển đồng nhất ở cả 3 thể loại:
- Chặng 1: Hát Nghi thức (Hát thờ thuần túy, bái vọng thần linh, dâng hương, giáo trống, giáo pháo).
- Chặng 2: Hát Quả cách / Bỏ bộ (Diễn xướng ca múa minh họa đời sống sản xuất, sinh hoạt bốn mùa, chèo thuyền).
- Chặng 3: Hát Hội (Hát giao duyên nam nữ, giải trí cộng đồng, hát đố, hát đùa).
Điều kiện biên (Boundary conditions) của khung phân tích: Mô hình được áp dụng chuyên biệt cho đối tượng sinh viên đại học sư phạm âm nhạc—những người vừa phải làm chủ kỹ thuật thanh nhạc truyền thống, vừa phải nắm vững phương pháp sư phạm để giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận hành trên lập trường triết học hiện thực phản ánh kết hợp diễn giải thực dụng (Pragmatic Interpretivism), xem xét di sản âm nhạc vừa là một thực thể lịch sử khách quan, vừa là một đối tượng sư phạm cần được tái cấu trúc trong môi trường giáo dục đại học.
Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp đa giai đoạn (Multi-phase Mixed Methods):
- Định tính: Khảo cứu văn bản Hán Nôm, thư tịch cổ; điền dã dân tộc nhạc học, phỏng vấn sâu các nghệ nhân gạo cội tại 3 vùng di sản (nghệ nhân Hát Xoan tại Kim Đức - Phú Thọ; nghệ nhân Hát Dô tại Liệp Tuyết - Quốc Oai; nghệ nhân Hát Dậm tại Quyển Sơn - Hà Nam tiêu biểu như nghệ nhân Trịnh Thị Răm).
- Định lượng: Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên diện rộng đối với toàn thể giảng viên và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc; thực nghiệm sư phạm theo mô hình kiểm định trước - sau (Pre-test / Post-test design).
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU RIGOROUS │
└────────────────────────────────────┬────────────────────────────────────┘
│
┌───────────────────────────┴───────────────────────────┐
▼ ▼
┌─────────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────────┐
│ PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH │ │ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG │
│ - Điền dã dân tộc nhạc học │ │ - Khảo sát bảng hỏi cấu trúc │
│ - Phỏng vấn sâu nghệ nhân gạo cội│ │ - Thống kê thực trạng dạy học │
│ - Ký âm đối chiếu bản phổ │ │ - Thực nghiệm Pre-test/Post-test│
└────────────────┬────────────────┘ └────────────────┬────────────────┘
│ │
└───────────────────┬───────────────────┘
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TRIANGULATION & XÁC LẬP KẾT QUẢ │
│ - Kiểm chứng chéo: Dữ liệu - Phương pháp - Giảng viên - Lý thuyết │
│ - Đánh giá độ tin cậy và giá trị sư phạm trên lớp K21 SPAN │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu trải qua 4 bước nghiêm ngặt:
- Giai đoạn 1 - Khảo cứu và Ký âm chuẩn hóa: Ghi âm trực tiếp các làn điệu cổ từ nghệ nhân dân gian, tiến hành phân tích âm thanh, phiên âm ca từ cổ và ký âm chuẩn xác sang hệ thống ký hiệu âm nhạc 5 dòng kẻ có bổ sung các ký hiệu luyến ngắt đặc thù của dân ca nghi lễ.
- Giai đoạn 2 - Điều tra thực trạng: Sử dụng hệ thống phiếu hỏi gồm các câu hỏi đóng và mở đối với cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy môn Lịch sử Âm nhạc Việt Nam, Lý thuyết Âm nhạc cơ bản, Dạy hát dân ca, và sinh viên các khóa tại Trường ĐHSP - Đại học Thái Nguyên.
- Giai đoạn 3 - Thiết kế can thiệp sư phạm: Xây dựng hệ thống 3 chuyên đề bài giảng tích hợp, lựa chọn danh mục 12 tác phẩm tiêu biểu (mỗi thể loại 4 bài bản cốt lõi đại diện cho 3 chặng hát), biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ thuật mở buồng vang, nhả chữ, lấy hơi sâu hoành cách mô kết hợp giọng thật ngực tự nhiên.
- Giai đoạn 4 - Thực nghiệm sư phạm và Đo lường: Triển khai dạy thực nghiệm trên sinh viên lớp K21 ngành Sư phạm Âm nhạc, Khoa Giáo dục Nghệ thuật; đánh giá theo thang đo tiêu chí 5 bậc chuẩn hóa.
Tính tam giác hóa (Triangulation) được bảo đảm toàn diện: tam giác hóa dữ liệu (tài liệu cổ, lời kể nghệ nhân, dữ liệu khảo sát thực tế), tam giác hóa phương pháp (quan sát lớp học, phân tích giáo án, ghi âm phân tích âm sắc giọng hát), và tam giác hóa lý thuyết (kết hợp lý luận dạy học đại học với âm nhạc học dân tộc).
Data và phân tích
Mẫu khảo sát định lượng bao gồm toàn bộ giảng viên giảng dạy chuyên ngành âm nhạc và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Sinh viên ở độ tuổi 18 - 20, đã hoàn thiện về mặt giải phẫu cơ quan phát âm, sở hữu tầm cữ giọng phát triển rộng từ quãng 10 đến quãng 13. Phần lớn sinh viên có nền tảng năng khiếu nhưng thói quen ca hát hoàn toàn theo phong cách tân nhạc hoặc thanh nhạc cổ điển phương Tây (Bel Canto), thiếu kỹ năng xử lý âm sắc dân gian (hát vang, sáng, nảy hạt, sử dụng khoảng vang ngực tự nhiên kết hợp luyến láy vi âm).
Công cụ đo lường thực trạng và thực nghiệm được mã hóa chi tiết qua 7 bảng thống kê chuyên dụng trong luận án:
- Bảng 1: Hệ thống tiêu chí đánh giá kiến thức lý luận, kỹ năng hát và kỹ năng sư phạm dạy học dân ca NLHT (gồm 5 tiêu chí thành phần: Nhận thức lịch sử/văn hóa; Hát đúng cao độ, trường độ, phong cách điệu thức; Kỹ thuật phát âm, nhả chữ, nảy hạt; Phong cách biểu cảm, điệu bộ diễn xướng; Kỹ năng thị phạm và tổ chức dạy học).
- Bảng 2: Thực trạng thực hiện mục tiêu dạy học dân ca NLHT cho sinh viên ĐHSP Âm nhạc.
- Bảng 3: Thực trạng nội dung chương trình đào tạo tại Trường ĐHSP - ĐHTN.
- Bảng 4: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học (thuyết trình, truyền khẩu một chiều chiếm trên 85%).
- Bảng 5: Đánh giá trình độ kiến thức và kỹ năng của sinh viên K21 trước thực nghiệm (Pre-test).
- Bảng 6: Đánh giá kết quả sinh viên K21 sau thực nghiệm (Post-test).
- Bảng 7: So sánh đối chứng tổng hợp các chỉ số định lượng trước và sau can thiệp thực nghiệm sư phạm.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Phát hiện 1: Chứng minh Hát Xoan là thể loại dân ca nghi lễ cổ xưa nhất của người Việt và xác lập mối liên hệ cội nguồn lan tỏa sang Hát Dô và Hát Dậm.
Phân tích cấu trúc âm nhạc và ca từ cho thấy sự tương đồng cấu trúc kỳ lạ giữa các thể loại ở 3 địa bàn địa lý tách biệt. Cụ thể, làn điệu Chúc thơ trong Hát Dô có cấu trúc thang âm và tuyến giai điệu tương đồng gần như tuyệt đối với bài Thơ nhang trong Hát Xoan; bài Trồng chuối (Hát Dô) tương ứng với bài Trồng bông luống đậu (Hát Xoan); các bài Phong trống, Phong pháo, Dâng hương (Hát Dậm Quyển Sơn) là biến thể phát triển trực tiếp từ các điệu Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang (Hát Xoan Phú Thọ). Điều này xác nhận giả thuyết về sự khuếch tán âm nhạc từ trung tâm Phú Thọ xuôi dòng sông Hồng xuống đồng bằng Bắc Bộ.
"Trong những nghi thức cầu cúng, cùng với việc tấu nhạc, những lời cầu khấn thần linh được ngân nga, cách điệu hóa và tiết tấu hóa ít nhiều hình thành những giai điệu đầu tiên của thể loại Hát thờ."
— Nguyễn Thụy Loan, Lược sử âm nhạc Việt Nam
Phát hiện 2: Nhận diện "khoảng trống kép" trong thực trạng đào tạo sư phạm âm nhạc.
Khảo sát thực trạng cho thấy trong chương trình đào tạo Sư phạm Âm nhạc hiện hành, nội dung dân ca NLHT chỉ chiếm một tỷ lượng thời gian vô cùng khiêm tốn (dưới 5% tổng thời lượng môn Hát dân ca và Lịch sử Âm nhạc Việt Nam). 100% giảng viên vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình lịch sử một chiều và dạy hát theo lối truyền khẩu thụ động từng câu, hoàn toàn vắng bóng việc ứng dụng công nghệ thông tin, phân tích cấu trúc thang âm điệu thức hoặc rèn luyện kỹ năng dàn dựng bài học cho trường phổ thông.
Phát hiện 3: Kết quả thực nghiệm sư phạm đột phá về phát triển năng lực toàn diện.
Dữ liệu xử lý thống kê toán học qua Bảng 5, Bảng 6 và Bảng 7 chứng minh tính vượt trội của hệ thống biện pháp can thiệp:
- Tỷ lệ sinh viên đạt mức Giỏi và Xuất sắc về kỹ năng nhận diện điệu thức và kiến thức lịch sử tăng vọt từ 8.3% (trước thực nghiệm) lên 66.7% (sau thực nghiệm).
- Tỷ lệ sinh viên làm chủ kỹ thuật phát âm, nhả chữ đúng phong cách dân ca nghi lễ (vang, sáng, rõ lời, giữ vững trục âm gốc quãng 4, quãng 5) tăng từ 11.1% lên 77.8%.
- Đánh giá chung về năng lực sư phạm và thực hành diễn xướng: mức Yếu/Kém giảm từ 41.7% xuống 0%; mức Tốt/Xuất sắc đạt 83.3%.
100% ┌─────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 77.8% │
80% │ ┌─────┐ │
│ 66.7% │ │ │
60% │ ┌─────┐ │ │ │
│ │ │ │ │ │
40% │ │ │ │ │ │
│ │ │ │ │ │
20% │ 8.3% 11.1% │ │ │ │ │
│ ┌─────┐ ┌─────┐ │ │ │ │ │
0% └───┴─┴─────┴────────┴─┴─────┴──────┴─┴─────┴────────┴─────┴──┴
Kiến thức Kỹ thuật Kiến thức Kỹ thuật
(Pre-test) (Pre-test) (Post-test) (Post-test)
Phát hiện 4: Giải mã bản chất thẩm mỹ đối lập giữa "Kỹ thuật thanh nhạc phương Tây" và "Diễn xướng dân ca nghi lễ".
Nghiên cứu chỉ ra việc áp dụng máy móc kỹ thuật hát mở rộng vòm họng ngắt âm (vibrato) của nhạc cổ điển châu Âu làm phá vỡ âm sắc bản địa của dân ca NLHT. Hát thờ đòi hỏi sử dụng âm thanh thẳng (non-vibrato), phát âm nhả chữ gắn liền với thanh điệu tiếng Việt (bằng, trắc, huyền, sắc, hỏi, ngã), giữ hơi nén chắc ở cơ hoành để tạo độ vang đanh, thành kính và trang trọng.
"Dân ca nghi lễ Hát thờ là những thể loại dân ca được hình thành, phát triển, tồn tại trong NLHT các vị thần của tín ngưỡng dân gian Việt Nam... phản ánh hiện thực khách quan qua tư duy trừu tượng về niềm thành kính với một nhân vật có công với làng, với nước, biểu hiện truyền thống đạo đức uống nước nhớ nguồn."
— Nguyễn Thanh Tiến, Luận án Tiến sĩ (2022)
Implications đa chiều
- Về lý luận âm nhạc học: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm củng cố lý thuyết phân vùng văn hóa và lý thuyết ngũ cung bản địa, đóng góp tư liệu ký âm khoa học chuẩn xác cho kho tàng âm nhạc cổ truyền.
- Về phương pháp dạy học âm nhạc: Chuyển đổi mô hình sư phạm từ "truyền thụ kiến thức nội dung" sang "phát triển năng lực nghề nghiệp", cung cấp quy trình 5 bước dạy hát dân ca cổ truyền có thể nhân rộng cho các thể loại khác như Ca trù, Hát Văn, Hát Chèo.
- Về ứng dụng thực tiễn và chính sách: Trực tiếp trang bị năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm âm nhạc—lực lượng nòng cốt sẽ triển khai nội dung Giáo dục Âm nhạc Địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu cụ thể:
- Giới hạn địa bàn khảo nghiệm: Quá trình khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai tập trung tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, chưa có điều kiện mở rộng thực nghiệm đồng thời tại các trường đào tạo nghệ thuật chuyên biệt (như Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam hay Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương).
- Giới hạn danh mục thể loại: Luận án mới chỉ khu biệt nghiên cứu 3 thể loại tiêu biểu (Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm), chưa thể bao quát toàn bộ các hình thái dân ca nghi lễ khác của vùng châu thổ sông Hồng như Hát Cửa đình (Hò Cửa đình), Hát Chèo Tàu, hay Lễ nhạc Phật giáo.
- Rào cản công nghệ thẩm định âm học: Việc đo lường sự thay đổi âm sắc và trường độ giọng hát của sinh viên trước và sau thực nghiệm chủ yếu dựa trên đánh giá của hội đồng chuyên gia sư phạm và bảng tiêu chí, chưa ứng dụng phần mềm phân tích quang phổ âm thanh chuyên sâu (như phần mềm Praat).
Các hướng nghiên cứu tiếp theo (Future Agenda):
- Mở rộng mô hình dạy học tích hợp di sản dân ca nghi lễ sang hệ thống các trường đại học sư phạm trên toàn quốc.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) và số hóa 3D không gian diễn xướng đền, đình, miếu cổ vào giảng dạy môn Lịch sử Âm nhạc Việt Nam.
- Thiết lập các đề tài so sánh đối sánh liên quốc gia giữa dân ca nghi lễ hát thờ của người Việt với nghệ thuật nhã nhạc cung đình Gugak/Jongmyo Jeryeak của Hàn Quốc hoặc Nhạc tế miếu Gagaku của Nhật Bản.
Tác động và ảnh hưởng
Tác động học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo nền tảng cho các học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc, Âm nhạc học và Văn hóa học; dự kiến tạo ra chỉ số trích dẫn cao trong các nghiên cứu về giáo dục di sản nghệ thuật tại Việt Nam.
Tác động sư phạm và giáo dục phổ thông: Việc cung cấp một khung năng lực chuẩn hóa và tuyển tập bài bản dân ca nghi lễ có ký âm chi tiết giúp hàng ngàn sinh viên sư phạm âm nhạc sau khi tốt nghiệp có thể tự tin truyền dạy di sản âm nhạc quê hương cho hàng triệu học sinh phổ thông, hiện thực hóa mục tiêu giữ gìn bản sắc dân tộc của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI và Chương trình GDPT 2018.
Tác động xã hội và bảo tồn di sản UNESCO: Nghiên cứu đóng góp trực tiếp vào công tác bảo tồn "sống" đối với di sản Hát Xoan Phú Thọ (Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO vinh danh năm 2018), đưa Hát Dô và Hát Dậm thoát khỏi nguy cơ mai một thông qua con đường học đường hóa một cách khoa học.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên Âm nhạc: Tiếp cận một khung phương pháp luận sư phạm âm nhạc chuẩn mực, kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc nhạc học và lý luận dạy học hiện đại.
- Sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc: Làm chủ kiến thức lịch sử, phát triển toàn diện kỹ thuật thanh nhạc dân gian và thành thạo phương pháp thiết kế kế hoạch bài dạy môn Âm nhạc.
- Giáo viên Âm nhạc trường Phổ thông: Sở hữu nguồn học liệu chuẩn hóa để triển khai các chủ đề âm nhạc dân tộc và nội dung giáo dục địa phương.
- Các nhà Hoạch định Chính sách Văn hóa - Giáo dục: Có căn cứ khoa học xác đáng để ban hành các quy định về chuẩn chương trình đào tạo giáo viên nghệ thuật gắn liền với bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc luận án đã vận dụng thành công lý thuyết "Trung tâm và ngoại vi" (Diffusionism của Clark Wissler, L. Frobenius; Ngô Đức Thịnh) kết hợp với lý thuyết âm nhạc ngũ cung của Ghi-rơ-sman để chứng minh tính thống nhất trong đa dạng của cấu trúc âm nhạc ba thể loại Hát Xoan, Hát Dô và Hát Dậm. Luận án khẳng định Phú Thọ là trung tâm phát tích dân ca nghi lễ cổ nhất thời Văn Lang, từ đó lan tỏa và tái định hình cấu trúc 3 chặng diễn xướng xuống lưu vực sông Đáy và sông Hồng.
"Trong âm nhạc ngũ cung, cấu trúc của trung tâm ổn định của điệu thức có những đặc điểm độc đáo: điểm tựa cao - điểm tựa giữa - điểm tựa thấp. Những điểm tựa này là tương quan các quãng 4, quãng 5 của giai điệu..."
— Ghi-rơ-sman, Dân ca là cơ sở của âm nhạc
2. Phương pháp nghiên cứu của luận án có điểm gì đổi mới so với các công trình tiền nhiệm?
So với các nghiên cứu của Tú Ngọc (1997) chỉ thuần túy khảo cứu âm nhạc dân tộc học hoặc Đề án của Phạm Lê Hòa (2009) chỉ đưa dân ca vào THCS theo diện phong trào, luận án của Nguyễn Thanh Tiến đã thiết kế một quy trình thực nghiệm sư phạm đa giai đoạn chặt chẽ (Pre-test / Post-test) trên đối tượng sinh viên đại học sư phạm âm nhạc. Tác giả thiết lập hệ thống 5 tiêu chí định lượng chuẩn hóa (Bảng 1) và xử lý dữ liệu qua toán thống kê giáo dục, lượng hóa chính xác sự tiến bộ về năng lực sư phạm và kỹ năng thanh nhạc của người học.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là sự đối kháng kỹ thuật giữa thói quen hát nhạc nhẹ/thanh nhạc cổ điển phương Tây của sinh viên và phong cách diễn xướng dân ca nghi lễ. Trước thực nghiệm, hơn 88% sinh viên dù có tai nghe âm nhạc rất tốt nhưng hoàn toàn thất bại khi hát dân ca NLHT do lạm dụng kỹ thuật rung giọng (vibrato) và lối nhả chữ đóng khẩu hình kiểu Tây phương. Sau khi được can thiệp bằng phương pháp luyện buồng vang ngực tự nhiên và kỹ thuật nén hơi cơ hoành giữ trục âm gốc thẳng (non-vibrato), tỷ lệ sinh viên làm chủ phong cách hát cổ truyền đã tăng vọt lên 77.8%.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp (Replication Protocol) hay không?
Luận án cung cấp một quy trình tái lặp sư phạm hoàn chỉnh gồm 4 cấu phần chi tiết:
- Khung cấu trúc 3 chuyên đề tích hợp lý thuyết và thực hành.
- Danh mục 12 tác phẩm bài bản chuẩn hóa kèm bản phổ ký âm chi tiết (giai điệu, tiết tấu, ký hiệu lấy hơi, luyến ngắt).
- Bản tiêu chí kiểm tra đánh giá 5 mức độ (Bảng 1).
- Quy trình bài giảng 5 bước tiếp cận năng lực cho môn Hát dân ca bậc đại học.
5. Tầm nhìn chiến lược 10 năm của hướng nghiên cứu này được xác định ra sao?
Luận án định hình lộ trình chiến lược 10 năm:
- Giai đoạn 2022 - 2025: Chuẩn hóa học liệu và đưa chuyên đề Dân ca Nghi lễ Hát thờ vào chương trình đào tạo chính khóa tại các trường Đại học Sư phạm trên toàn quốc.
- Giai đoạn 2025 - 2030: Xây dựng kho dữ liệu số hóa tương tác âm thanh - hình ảnh đa phương tiện về không gian diễn xướng dân ca nghi lễ phục vụ đào tạo từ xa và giáo dục phổ thông.
- Giai đoạn sau 2030: Thiết lập trung tâm nghiên cứu so sánh âm nhạc nghi lễ Đông Nam Á và quốc tế, định vị giá trị của lễ nhạc dân gian Việt Nam trên bản đồ âm nhạc học thế giới.
Kết luận
- Xác lập vị thế bản thể học và giá trị cốt lõi của Dân ca Nghi lễ Hát thờ (Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm) như một phân hệ âm nhạc cổ xưa nhất, hàm chứa nhân sinh quan, đạo đức "Uống nước nhớ nguồn" và mỹ học độc đáo của người Việt cổ.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận dạy học âm nhạc đại học thông qua việc tích hợp liên ngành giữa Dân tộc Âm nhạc học (Ethnomusicology) và Lý luận dạy học phát triển năng lực (Competency-based Didactics).
- Đột phá trong giải mã không gian văn hóa âm nhạc: Vận dụng thành công thuyết "Trung tâm và ngoại vi" để chứng minh sự lan tỏa và tính thống nhất cấu trúc 3 chặng diễn xướng từ cái nôi Hát Xoan (Phú Thọ) sang Hát Dô (Hà Nội) và Hát Dậm (Hà Nam).
- Cung cấp hệ thống giải pháp sư phạm đồng bộ, khả thi và đã được kiểm chứng thực nghiệm thành công trên sinh viên lớp K21 Trường ĐHSP - Đại học Thái Nguyên, nâng chất lượng thực hành và kỹ năng sư phạm đạt mức Tốt/Xuất sắc lên trên 83%.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới: Chuyển đổi số di sản âm nhạc nghi lễ trong không gian ảo; Xây dựng phương pháp sư phạm cho các thể loại lễ nhạc cổ truyền khác; Đối sánh âm nhạc nghi lễ cổ truyền Việt Nam với các nền âm nhạc nghi lễ phương Đông và phương Tây.
- Để lại di sản học thuật thực tiễn bền vững: Đóng góp trực tiếp vào công cuộc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và bảo đảm nguồn nhân lực giáo viên chất lượng cao phục vụ thắng lợi công cuộc đổi mới Chương trình Giáo dục phổ thông môn Âm nhạc tại Việt Nam.