phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Văn hóa làng quê và sáng tác của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ. Chƣơng 2: Những biểu hiện văn hóa làng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ. Chƣơng 3: Phương thức biểu hiện văn hóa làng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ. CHƢƠNG 1 8 z VĂN HÓA LÀNG QUÊ VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DUY- ĐỒNG ĐỨC BỐN - PHẠM CÔNG TRỨ 1.
Văn hóa - những vấn đề chung 1. Quan niệm về văn học Văn học là một hình thái xã hội thẩm mĩ. Nó cũng như các loại hình nghệ thuật khác, không phải là của cải vật chất của xã hội, cũng không phải là một lực lượng trực tiếp sản sinh ra một giá trị vật chất nào cho đời sống xã hội. Nhưng chúng ta sẽ không thể hình dung nổi một xã hội mà ở đó không có sự tồn tại của văn chương nghệ thuật.
Chỉ bởi nó chiếm giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Và cũng vì vậy, đã từ lâu vấn đề bản chất của văn học luôn luôn thu hút sự quan tâm rộng rãi của các nhà nghiên cứu văn học. ý thức được vai trò, giá trị của văn học trong đời sống của mình, con người từ xa xưa đã muốn tìm hiểu để nắm bắt được bản chất, quy luật đặc trưng, đặc điểm của văn học. Khi nói văn học là hình thái xã hội thẩm mĩ, là nói tới đặc thù của văn học với các hình thái ý thức xã hội khác thuộc kiến trúc thượng tầng như khoa học, triết học, đạo đức, chính trị, tôn giáo vv… Khi nói văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ, được ra đời từ rất sớm là nói đặc thù của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc….
Tất cả các loại hình nghệ thuật, kể cả văn chương, đều thống nhất ở một điểm cơ bản là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Nhưng sở dĩ các loại hình nghệ thuật đều song song tồn tại, và dường như là để bổ sung cho nhau là vì đặc trưng hình tượng của các loại hình nghệ thuật đó khác nhau trên nhiều điểm cơ bản. Chẳng hạn, hình tượng của nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc là có tính tĩnh và chiếm một khoảng không gian nhất định; hình tượng của nghệ thuật âm nhạc, điện ảnh…có tính chất động và diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định vv…Vậy cái gì đã khiến cho hình tượng các loại hình nghệ thuật có đặc điểm riêng biệt đó? Lí do trên hết và trước hết chính là ở đặc trưng của chất liệu xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của chúng. Chất liệu màu sắc, đường nét của hội họa khác hẳn chất liệu âm thanh của âm nhạc, hình khối của điêu khắc.
Chất liệu ngôn từ của hình tượng văn chương khác xa với âm thanh, màu sắc, đường nét, hình khối của các nghệ thuật kia. Ở đó, người ta thấy văn chương có một vị trí đặc biệt, nó vừa mang tính chất của nghệ thuật tĩnh, lại vừa mang tính chất của nghệ thuật động; vừa là nghệ thuật biểu hiện, lại vừa có mặt trong nghệ thuật tạo hình; lại nữa nó như cầu nối giữa nghệ thuật tổng hợp với các nghệ thuật riêng lẻ. Chính ngôn từ, chất liệu cấu tạo nên các hình tượng văn chương đã qui định tính độc đáo và đặc biệt của văn chương. Vì vậy để tìm hiểu về văn chương nghệ thuật, không thể không tìm hiểu đặc trưng bản chất chất liệu đã tạo nên hình tượng văn chương.
Vậy ngôn từ của văn học có khả năng gì? Sức mạnh nghệ thuật của ngôn từ trước hết là ở khả năng tạo hình của nó. Ngôn từ mang tính hình tượng tự trong bản chất của nó. Bởi vì, ngôn ngữ là hiện thực trực 9 z tiếp của tư duy và ý thức không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được. Ngôn từ nào cũng là phát ngôn của chủ thể.
Không có ngôn từ vô chủ. Tác phẩm văn học là tổng thể của những phát ngôn (của tác giả, của người kể chuyện, nhân vật, cái tôi trữ tình…) cho nên ngôn từ còn cho ta hiểu được giọng điệu, tư tưởng, tình cảm, quan điểm, tính cách…của các chủ thể phát ngôn đó. Với chất liệu ngôn từ, văn học có thể phản ánh bất kỳ một phương diện nào của đời sống hiện thực, có khả năng nhận thức to lớn, thể hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn vẹn nhất. Văn học với chất liệu là ngôn từ có thế mạnh riêng của nó, đã vươn lên vị trí hàng đầu như là điểm giao thoa của nhiều ngành nghệ thuật.
Văn học vẫn mãi là loại hình nghệ thuật quan trọng trong các loại hình nghệ thuật, góp phần làm cho đời sống tinh thần con người thêm phong phú. Khi nói văn học là bao gồm cả văn học dân gian (những sáng tác lưu truyền bằng miệng từ đời này qua đời khác) và cả văn học viết (những tác phẩm văn học được sáng tác, lưu truyền bằng những văn bản viết). Văn học ra đời do nhu cầu của con người trong quá trình phát triển của lịch sử của mình, vì vậy văn học phục vụ đời sống của con người. Văn học là một thứ thông điệp nhưng là một thứ thông điệp thẩm mĩ của một tâm hồn gửi đến một tâm hồn, của một trái tim gửi đến một trái tim.
Một thứ thông điệp mà nội dung chủ yếu là: Con người với tất cả đời sống tự nhiên và xã hội, thân phận và cuộc đời của nó - một thứ thông điệp mà nó có thể làm dấy lên ở người đọc những tình cảm, suy nghĩ, tưởng tượng lâu dài, bền bỉ, sâu sắc khác với nhiều loại thông điệp khác. Khi tiếp xúc với văn học, con người bước chân vào thế giới của cái đẹp, của các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, vì vậy văn học có chức năng đặc biệt trong hoàn thiện nhân cách của con người. Những tác phẩm văn học chân chính luôn là những tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc. Từ khi ra đời cho đến nay, văn học đã có sự thay đổi và phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của con người, nhưng bản chất và chức năng của văn học thì không thay đổi.
Văn học luôn luôn hướng tới cái đẹp, hướng tới con người và những giá trị người, văn học luôn là một loại hình nghệ thuật quan trọng trong đời sống tinh thần của con người, văn học là một bộ phận của văn hóa con người. Quan niệm về văn hóa Văn hóa là một khái niệm rộng vì vậy có rất nhiều hướng nghiên cứu, và cũng có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì có tới hơn 400 định nghĩa về văn hóa tính đến năm 1994. Kroeber và Kluckhohn (Mỹ), có trên 200 định nghĩa về văn hoá.
Sự phong phú đa dạng trong khái niệm văn hóa chứng tỏ nhân loại đã, đang và sẽ quan tâm sâu sắc tới việc nhận thức rõ hơn về văn hóa. Và con người càng ngày càng thấy được tầm ảnh hưởng của văn hóa đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Federico Mayor - Tổng giám đốc UNESCO cho rằng “Đối với một số người văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo, đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác 10 z với dân tộc khác từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán lối sống và lao động”[63;21]. Và chính Federico Mayor cũng phải thừa nhận “văn hóa định nghĩa chúng ta nhiều hơn chúng ta định nghĩa văn hóa”.
Xem văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Nhà văn hoá Eduord Herriot cho rằng: “Văn hoá là cái còn lại khi người ta quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta học tất cả”. Ở Việt Nam vấn đề văn hóa cũng được quan tâm sâu sắc và có nhiều ý kiến khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[33;1].
Học giả Đào Duy Anh quan niệm: “Theo nghĩa rộng văn hóa gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà tất cả loài người sản sinh ra. Theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ là gồm những năng lực tinh thần do các nhà tri thức vận dụng để duy trì và phát triển những giá trị văn hóa theo nghĩa rộng kia”[1;51]. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng đã định nghĩa “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người khác, các biểu hiện lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác”[47;17].
Các định nghĩa trên thể hiện những góc nhìn khác nhau, những quan niệm khác nhau về văn hóa. Trong khoa học xã hội và nhân văn, không có một khái niệm nào lại mơ hồ như khái niệm văn hóa. Có thể thấy văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội. Là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cộng đồng và cá nhân qua thời gian.
Văn hóa đó là sản phẩm đặc hữu chỉ có ở con người. Do đó mọi cái liên quan đến con người đều có mặt văn hóa của nó. Văn hóa được hình thành từ bốn thành tố chính: lao động sản xuất, tri thức - học vấn, tiềm lực sáng tạo, lối sống. Lao động sản xuất ở đây được quan niệm cả lao động chân tay và trí óc.
Đó là hoạt động để nuôi sống con người, duy trì sự tồn tại của xã hội.