MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hiện nay sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đang đòi hỏi bứt xúc nhu cầu về nguồn nhân lực, một lực lượng lao động đông đảo có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế trong xu thế cạnh tranh và hội nhập, nhất là trong giai đoạn nước ta là thành viên tổ chức thương mại Thế giới (WTO ). Đảng và Nhà nước ta đã có những chiến lược, chính sách ưu tiên để đầu tư phát triển và đổi mới toàn diện quá trình giáo dục và đào tạo, chấn hưng nền giáo dục nước nhà theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Muốn đạt được các chiến lược nêu trên điều quan trọng nhất là phải phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao vì đây là“ Nguồn nguyên khí của quốc gia”.
Khi nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam chúng ta thì sẽ thấy còn nhiều bất cập, tình trạng thất nghiệp vẫn đang được báo động. Một trong những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo không đáp ứng được đòi hỏi mà những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ. Vấn đề này đặt ra cho công tác dạy nghề phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề như là một tất yếu khách quan, một yêu cầu hết sức cấp thiết.
Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đã được Đại hội lần thứ XI của Đảng ( tháng 01 năm 2011 ) xác định là một khâu đột phá chiến lược để bảo đảm đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây là một nhiệm vụ rất cơ bản đồng thời cũng rất cấp bách, cần được quan tâm thực hiện ở nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau, từ những người lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh cho đến các chuyên gia, các nhà quản lý (quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước) đến các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, sự phát triển của nguồn nhân lực ở các cấp ấy là điều kiện tiên 1 Luan van quyết cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta hiện nay. Để cụ thể hóa Nghị quyết ngày 29 tháng 5 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 với mục tiêu “ Dạy nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội ” 1.
Công tác đào tạo nghề được xem là một công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao và góp phần phát triển xã hội trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, ngày nay giáo dục nghề của Việt Nam, cũng như của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới, đang phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá kinh tế, đang ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống, kể cả sự huy động nhân lực xuyên quốc gia. Trong hoàn cảnh đó, sự cạnh tranh thị trường lao động có trình độ cao đang ngày càng trở nên gay gắt. Điều đó đòi hỏi những người tốt nghiệp nghề phải có những phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp và kiến thức, kỹ năng thực hành tốt, mới có khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường lao động ngày càng sôi động như hiện nay.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nghiệp dạy nghề đã và đang được phục hồi, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao của thị trường lao động. Tuy nhiên, trong công tác đào tạo nghề vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, bức xúc và là mối quan tâm của toàn xã hội, do thiếu quy hoạch cho nên đào tạo nghề hiện nay hầu như là tự phát, cơ cấu ngành nghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu thực tế, không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ khá phổ biến, hơn nữa đào tạo nghề chưa thích ứng với thị trường lao động, chất lượng và 1 Thủ tướng chính phủ. Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2013, Quyết định phê duyệt ngày 29/5/2012.
2 Luan van số lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các khu, cụm công nghiệp - khu chế xuất, lạc hậu so với các nước trong khu vực, chưa có chính sách thu hút trọng dụng người tài, chưa tạo môi trường cạnh tranh, công bằng lành mạnh. Thực trạng trên cho thấy sự nghiệp dạy nghề đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong nước và quốc tế, dạy nghề cần được phát triển trên cơ sở đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng tiếp cận với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật, công nghệ và hội nhập. Lĩnh vực dạy nghề cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu như: Quy hoạch và phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, mở rộng quy mô đào tạo, tiếp tục đổi mới nội dung chương trình dạy nghề, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề, tăng cường quản lý chất lượng, xây dựng và ban hành các quy chế chính sách cụ thể để nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
Để cụ thể hóa các thực trạng nêu trên ngày 27 tháng 11 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số: 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 ”. Đối với công tác đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015 tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra “nhằm tạo bước đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững của vùng và cả nước” 2. Do chuyển dịch cơ cấu lao đông từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp ngày càng nhiều từ đó tạo nên đa dạng quá các ngành nghề trong lao động cũng như trong sản xuất trong đó có ngành công nghiệp dệt may. Ngành công nghiệp dệt may được xem là một ngành nghề truyền thống từ lâu ở Việt Nam.
Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế ở nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội. Xu thế toàn cầu hóa có tác động đến tất cả các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển, và điều đó dẫn đến sự 2 Thủ tướng Chính phủ. Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Quyết định phê duyệt ngày 27/11/2009 3 Luan van liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng chặt chẽ. Với khoảng hơn 2000 doanh nghiệp, trong đó đa số có quy mô vừa và nhỏ với những hạn chế nhất định về khải năng tài chính, trình độ công nghệ tay nghề của đội ngũ lao động, trình độ quản lý và uy tín thương hiệu, ngành dệt may Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc cạnh tranh với các tập đoàn dệt may lớn trên thế giới.
Ngành dệt may Việt Nam đã trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may thế gới nhưng mới dừng lại ở khâu gia công. Hiện nay, Việt Nam đã thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường thế giới, sản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất đi rất nhiều nơi và Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất trên thế giới từ đó thu về một nguồn ngoại tệ rất lớn cho đất nước. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có khoảng 65 công ty, doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc và cơ sở may gia công, thu hút hơn 24.500 thợ may làm việc, nhưng trong đó chỉ có rất ít các cơ sở may trang phục dân tộc Khmer. So với mật độ dân số, số lượng người dân tộc Khmer và nhu cầu sử dụng trang phục dân tộc của người dân trên địa bàn tỉnh thì cho thấy rất cần nhiều thợ may trang phục dân tộc Khmer nhằm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Ngay từ cuối thế kỷ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều cộng đồng dân tộc sinh sống. Trong đó, người dân tộc Khmer đã có mặt từ rất sớm. Trong quá trình tìm đất định cư, bà con Khmer đã chọn những vùng đất giồng cát cao dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu, nương nhờ vào thiên nhiên để trồng tỉa và sinh sống. Người Khmer đã quần tụ nhiều trong những phum sóc trên những giồng đất ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và An Giang.
Người dân tộc Khmer hiền hòa, hiếu khách, sống bằng nghề làm ruộng thâm canh, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ, người Khmer tuy sống giữa cộng đồng người Việt hàng chục thế kỷ, nhưng họ luôn giữ bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc mình, được thể hiện qua chữ viết Paly, các lễ hội, trang phục cũng như những sinh hoạt cộng đồng khác. Đa phần người dân tộc Khmer theo Phật giáo tiểu thừa, có những hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo thể hiện qua ca múa, lễ hội. người dân tộc Khmer có nhiều lễ 4 Luan van hội bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Phật như Tết Chôl Chnăm Thmây (Mừng năm mới) với nghi lễ tắm tượng Phật bằng nước thơm; Lễ đôlta ( Báo hiếu-xá tội vong nhân ); Lễ hội Óoc Oom Bóc (Cúng trăng); Lễ hội Dâng bông (Dâng Phước) khi dự các lễ họ mặc những bộ trang phục rất đẹp, mang bản sắc riêng của dân tộc Khmer. Nhìn chung, các loại trang phục truyền thống của người Khmer vừa kín đáo vừa trang trọng và có phần lộng lẫy với trang trí và màu sắc sặc sỡ, rất duyên dáng và xinh đẹp.