chương 1) của Luật Du lịch Việt Nam 2017 quy định: Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Như vậy, nhóm khách du lịch quốc tế được phân thành hai loại: Khách du lịch quốc tế đi vào (Inbound tourist): là người nước ngoài và người của một quốc gia và ngừoi nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch Khách du lịch quốc tế đi ra (Outbound tourist): là công dân của một quốc gia và người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch. Phân loại và vai trò khách du lịch quốc tế đối với phát triển làng nghề a. Phân loại khách du lịch quốc tế Tuỳ theo các phân loại khách du lịch quốc tế mà đặc điểm về khách du lịch quốc tế cũng khác nhau. Khách du lịch quốc tế được chia thành ba nhóm chính sau đây: - Khách giải trí, nghỉ ngơi - Khách kinh doanh và công vụ - Khách thăm viếng bạn bè, người thân (thăm thân) Nhóm khách du lịch đi du lịch với mục đích giải trí, nghỉ ngơi có đặc điểm chung là: họ lựa chọn các điểm đến phù hợp với sở thích của họ hưởng 13 Luan van thụ các giá trị văn hoá, cảnh quan thiên nhiên hoặc phục hồi sức khoẻ; họ ít trung thành với các điểm đến du lịch, tính thời vụ thể hiện rõ (họ thường đi du lịch vào các kỳ nghỉ hoặc khi thời tiết thuận lợi); quyết định lựa chọn điểm đến của họ khá nhạy cảm với giá cả; thời gian dành cho chuyến đi thường dài; có thể họ thường lựa chọn tham quan nhiều điểm du lịch khác nhau trong một chuyến đi.
Đối với nhóm khách du lịch công vụ: mục đích chính cho chuyến đi của họ là thục hiện một công việc nào đó (kinh doanh, hội nghị, tham dự hội chợ, triển lãm.), tuy nhiên, trong các chuyến đi đó họ thường kết hợp tham quan, nghỉ ngơi .; việc lựa chọn phương tiện giao thông, loại hình lưu trú, thời gian lưu lại. phụ thuộc vào loại công việc của họ; họ ít chịu sự chi phối của biến động giá cả các sản phẩm du lịch; mức chi tiêu của họ cao. Nhóm khách du lịch thăm thân có đặc điểm là: thời gian lưu lại không dài, ít nhạy cảm với giá cả, việc kết hợp tham quan các điểm du lịch ít khi được xác định trước. Trong ba nhóm khách nêu trên, nhóm thứ nhất thưòng chiếm tỷ trọng cao nhất.
Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2016, tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam đi du lịch theo mục đích giải trí, nghỉ ngơi chiếm 52,2%, kinh doanh chiếm 19,5%, thăm thân và mục chiếm 28,3%. [11] Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam với nhiều mục đích, chủ yếu là du lịch thuần tuý, du lịch kết hợp với thương mại, du lịch MICE, du lịch thăm thâm. Khách du lịch thuần tuý có khả năng chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài. Vì thế, cần thiết có nhiều điểm du lịch mới, các chương trình du lịch mới, hấp dẫn, giảm sự lặp lại tring sản phẩm du lịch để thu hút số lượng khách này nhiều hơn.
Đối với khách du lịch thương mại, chiếm thị trường trung bình, nhưng lại có khả năng chi tiêu rất cao, có thể đóng góp đáng kể trong tổng thu nhập của ngành. Do đó, thị trường này cần có những chính sách, ưu đãi phù hợp để thu hút khách. Vai trò khách du lịch quốc tế đối với phát triển làng nghề 14 Luan van Tăng GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) cho đất nước Du lịch quốc tế phát triển sẽ góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch trong khu vực dịch vụ, theo đó làm tăng GDP của nền kinh tế quốc dân. Ở đâu du lịch phát triển, đặc biệt là du lich quốc tế thì ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống của nhân dân được nâng cao.
Hơn nữa, hoạt động du lịch quốc tế còn tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển, khôi phục nhiều lễ hội và làng nghề thủ công truyền thống, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu, mở rộng giao lưu giữa các vùng miền trong và ngoài nước. Mang lại ngoại tệ cho đất nước Khách du lịch quốc tế mang theo tiền kiếm được từ quốc gia cư trú đến tiêu ở nước đến du lịch, trong chừng mực nào đó được coi là xuất khẩu của nước đến du lịch, do đó giúp cải thiện cán cân thương mại quốc gia. Vì vậy, nếu du lịch quốc tế được duy trì một cách thường xuyên và phù hợp thì nó có thể được coi như một tác nhân giữ ổn định nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu. Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Hoạt động liên doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành.
Yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành này là cơ sở cho các ngành như: giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, sản xuất đồ lưu niệm phát triển. Lượng khách du lịch quốc tế đến với quốc gia càng nhiều thì giao thông quốc tế và hệ thống cơ sở hạ tầng của quốc gia như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện truyền thông, … càng được mở rộng và hoàn thiện. Lượng khách du lịch quốc tế càng nhiều còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa cho nền sản xuất xã hội. Khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các nhà kinh doanh thường tìm đến các lĩnh vực kinh doanh thu được lợi nhuận cao trên mỗi đồng vốn bỏ ra.
Một ưu điểm lớn của hoạt động kinh 15 Luan van doanh du lịch là vốn đầu tư ban đầu vào du lịch tương đối ít so với các ngành công nghiệp nặng mà khả năng thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động. Hơn nữa du lịch quốc tế lại là một nguồn thu ngoại tệ đáng kể trong tổng doanh thu mà ngành du lịch mang lại, vậy nên việc thu hút khách du lịch quốc tế sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài chú trọng và đẩy mạnh đầu tư hơn nữa vào ngành du lịch. Hơn nữa, hoạt động du lịch phát triển sẽ kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng miền và với quốc tế. Có thể nói, thông qua hoạt động du lịch quốc tế mà các giao dịch thương mại cũng như việc gặp gỡ trao đổi thông tin, công nghệ giữa các quốc gia được đẩy mạnh.
Điều này góp phần xúc tiến hoạt động ngoại thương và đem lại nguồn lợi lớn cho quốc gia. Một số vấn đề chung về Làng nghề truyền thống 1. Khái niệm về làng nghề Quá trình phát triển của làng nghề là một quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp nông thôn. Lúc đầu từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan rộng ra cả làng.
Hiện nay, chưa có khái niệm chính thức và vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về Làng nghề cũng như các tiêu chuẩn để công nhận làng nghề. Quan điểm thứ nhất, “Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đây, các hộ dân trong làng không nhất thiết tất các hộ dân trong làng đều sản xuất hàng thủ công. Mà người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông, nhưng yêu cầu và đòi hỏi về chuyên môn, kỹ thuật tay nghề cao tạo nên những sản phẩm độc đáo do những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng nghề của mình” [10] Quan điểm thứ hai, “Làng nghề là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng.
Làng nghề 16 Luan van không những là một làng sống chuyên nghề mà là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển tạo ra việc làm lúc nông nhàn. Đặc trưng của các làng nghề Việt Nam đó là vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và nó có những đặc trưng khác biệt của địa phương so với các địa phương khác” [10] Quan điểm thứ ba, “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hoá” [6] Quan điểm thứ tư, “ Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian” [6] Quan niệm thứ năm: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền, nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cùng tồn tại hàng chục năm. Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa. Đồng thời sản xuất ra những sản phẩm mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh sảo, nổi tiếng, đậm nét văn hoá dân tộc.
Về mặt pháp lý, theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ quy định: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. 17 Luan van Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính chất riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một hoặc thất truyền. Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Làng nghề truyền thống phải có đủ các tiêu chí của làng nghề, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.