Tổng quan luận án
Công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Điều 40 khoản 2 Luật Giáo dục 2009 đặt ra yêu cầu chuyển dịch mạnh mẽ từ lối truyền thụ một chiều sang phát triển phẩm chất, năng lực người học, rèn luyện kỹ năng thực hành và phương pháp tự học. Trong bối cảnh các trường đại học sư phạm thực hiện đổi mới đào tạo theo chuẩn đầu ra của giáo viên phổ thông, việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn nghiệp vụ sư phạm giữ vai trò then chốt.
Môn Giáo dục học là học phần nghiệp vụ cốt lõi, trang bị hệ thống tri thức nền tảng về dạy học và giáo dục. Tuy nhiên, thực tế đào tạo cho thấy sau khi hoàn thành môn học, sinh viên sư phạm chủ yếu mới tiếp nhận tri thức ở mức độ lý thuyết, chưa hình thành và vận dụng thành thạo các năng lực nghề nghiệp để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn trường phổ thông. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc dạy học trên lớp chưa chú trọng tổ chức các hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp cho người học. Khoảng trống nghiên cứu này đặt ra yêu cầu cần xây dựng một quy trình dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm nhằm gắn kết lý thuyết với thực tiễn nghề nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm nhằm nâng cao kết quả học tập, đồng thời phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên đại học sư phạm.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm bốn nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm ở đại học sư phạm;
- Khảo sát thực trạng dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm ở đại học sư phạm;
- Đề xuất quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm ở đại học sư phạm;
- Tiến hành thực nghiệm quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm ở đại học sư phạm mà đề tài đề xuất.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Giáo dục học ở trường đại học sư phạm.
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tương quan giữa quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm ở trường đại học sư phạm với kết quả học tập của sinh viên.
Giả thuyết khoa học:
Dạy học môn Giáo dục học ở Đại học Sư phạm chưa chú trọng tổ chức các hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp cho sinh viên thông qua hình thức dạy học trên lớp, nên năng lực sư phạm của đa số sinh viên còn hạn chế. Nếu giảng viên tăng cường tổ chức, định hướng, hỗ trợ, tạo cơ hội và khuyến khích sinh viên được trải nghiệm kỹ năng nghề nghiệp theo đúng quy trình thì sẽ nâng cao được kết quả học tập môn Giáo dục học, đồng thời phát triển được các năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận án dựa vào chu trình học tập trải nghiệm của David A. Kolb để thiết kế và tổ chức dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên ngành sư phạm (không thuộc chuyên ngành Tâm lí - Giáo dục) tại các trường đại học, tập trung vào hoạt động dạy học của giảng viên nhằm bảo đảm sinh viên được định hướng và tiếp nhận kiến thức, kỹ năng, giá trị nghề nghiệp thông qua trải nghiệm.
- Về không gian và địa bàn: Khảo sát thực trạng tại 5 trường đại học có đào tạo sinh viên sư phạm đại diện cho các vùng miền: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Trường Đại học Hải Phòng (vùng đồng bằng); Trường Đại học Vinh (miền Trung); Trường Đại học Tân Trào (miền núi). Đối tượng khảo sát là giảng viên giảng dạy Giáo dục học và sinh viên năm thứ ba ngành sư phạm các khoa cơ bản.
- Về thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm tác động và đánh giá trên khách thể là sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 qua hai vòng thực nghiệm (khóa 41 và khóa 42).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tư tưởng học qua trải nghiệm từ thời cổ đại đến hiện đại:
- Giai đoạn trước thế kỷ XX: Các tư tưởng tiến bộ ban đầu xuất hiện ở Khổng Tử ("Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu"), Aristotle ("Với những việc chúng ta phải học hỏi trước khi làm, chúng ta hãy học bằng cách làm chúng"), John Locke (thế kỷ XVII, nhấn mạnh tri thức rút ra từ cảm giác, quan sát và trải nghiệm thực tiễn) và Jean-Jacques Rousseau (thế kỷ XVIII, đề cao việc để học trò học bằng kinh nghiệm và tôn trọng tính chủ thể).
- Nửa đầu thế kỷ XX: Lý thuyết học tập qua trải nghiệm được xây dựng với các đại diện tiêu biểu như John Dewey (cuốn Kinh nghiệm và giáo dục, khẳng định học tập qua trải nghiệm là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn), Kurt Lewin (mô hình học tập 4 giai đoạn: Kinh nghiệm cụ thể; Quan sát và phản hồi; Hình thành khái niệm trừu tượng và khái quát hóa; Những tác động thử nghiệm) và Jean Piaget (nghiên cứu nhận thức luận trẻ em qua 4 giai đoạn phát triển).
- Nửa sau thế kỷ XX đến nay: David A. Kolb (1984) xuất bản công trình Học tập qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn gốc của học tập và phát triển, phát triển mô hình chu trình học tập 4 giai đoạn kết hợp trục nắm bắt và trục chuyển đổi kinh nghiệm.
- Nghiên cứu về phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm: Mellor, Sprau & Keig, Hickox, Melvin L. Silberman, Roger Greenaway, Garry Shirts, Lorraine Ukens, Terrence L. Gargiulo, Brian Remer, Osland, Rubin, Turner, Schoel, Prouty & Radcliffe, McIntyre.
- Nghiên cứu về vai trò của dạy học theo tiếp cận trải nghiệm: Umapathy, Sims & Sauser, Specht, Nguyễn Thị Thu Hoài, Đặng Văn Nghĩa, Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Công Khanh. Trong giáo dục đại học có Chickering, Gypen, Kolb, Clark & White, Doherty & Conrad, Mentkowski & Strait.
- Nghiên cứu về thiết kế giảng dạy theo tiếp cận trải nghiệm: Svinicki & Dixon (1987) với mô hình giảng dạy toàn diện; Gibb (1988) với quy trình 4 bước dạy học trải nghiệm; Siegel và cộng sự (1997) với mô phỏng video.
- Các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Ở giáo dục phổ thông: Võ Trung Minh (2015), Hoàng Mai Lê và cộng sự (2012), Phạm Sỹ Nam (2012), Phan Duy Nghĩa (2014), Nguyễn Minh Nguyệt (2012), Dương Thị Thúy Nga (2014), Phan Thị Phương Thảo (2014), Vũ Thị Ngọc Uyên (2013).
- Ở giáo dục đại học và dạy nghề: Nguyễn Văn Hạnh (2013), Đỗ Thế Hưng và cộng sự (2013).
- Về dạy học môn Giáo dục học ở trường đại học sư phạm: Hướng nghiên cứu nội dung và bài học có Hồ Thị Dung, Nguyễn Thị Hà Lan, Lê Thùy Linh, Bùi Thị Mùi; hướng nghiên cứu phương pháp và hình thức tổ chức có Trịnh Thúy Giang, Huỳnh Mộng Tuyền, Vũ Lệ Hoa, Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Thị Hương.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận trải nghiệm ở Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào bậc phổ thông hoặc đào tạo nghề, phạm vi hẹp. Tại các trường đại học sư phạm, các nghiên cứu môn Giáo dục học tiếp cận theo nhiều góc độ (giải quyết vấn đề, năng lực thực hiện, nghiên cứu tình huống, tự học) nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về việc vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của David A. Kolb để xây dựng quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm. Luận án được thực hiện để giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xác lập hệ thống khái niệm công cụ và khung lý thuyết nền tảng:
- Trải nghiệm: Quá trình chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn của cuộc sống thông qua sử dụng một cách có điều chỉnh, đổi mới, bổ sung kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của bản thân trong môi trường, điều kiện cụ thể.
- Học tập qua trải nghiệm: Kiểu học không chỉ bằng cảm xúc mà còn là quá trình cá nhân huy động tối đa kiến thức và kinh nghiệm sẵn có khi trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn nhằm tạo ra những kiến thức, kinh nghiệm mới cho bản thân để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Dạy học theo tiếp cận trải nghiệm: Quá trình người dạy dựa vào những vấn đề lí luận tổng quát (triết lí, quan điểm, đặc điểm...) về trải nghiệm, học tập qua trải nghiệm để lãnh đạo, tổ chức, điều khiển người học bằng những kiến thức, kinh nghiệm sẵn có chủ động sử dụng các giác quan và các thao tác tư duy để tham gia trực tiếp, liên tục vào các hoạt động thực tiễn trong môi trường, điều kiện cụ thể nhằm tạo ra kiến thức, kinh nghiệm mới cho bản thân đáp ứng được mục tiêu dạy học.
- Khung lý thuyết của David A. Kolb (1984): Mô hình học tập qua trải nghiệm vận hành theo chu trình xoắn ốc 4 giai đoạn:
- Kinh nghiệm cụ thể (Concrete Experience);
- Quan sát - phản ánh (Reflective Observation);
- Khái niệm hóa trừu tượng (Abstract Conceptualization);
- Thực hành chủ động (Active Experimentation).
- Tám đặc điểm dạy học theo tiếp cận trải nghiệm ở đại học: Làm thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của giảng viên và sinh viên; quá trình học liên tục khởi nguồn từ kinh nghiệm sẵn có; nội dung mang tính phân hóa cao; quá trình học tập là sự thích nghi toàn diện (nhận thức - cảm xúc - hành vi); giúp lĩnh hội kinh nghiệm nghề nghiệp đặc thù; tăng cường tương tác với tài liệu và môi trường; khuyến khích cân bằng giữa trải nghiệm tích cực và tiêu cực; chú trọng đánh giá quá trình bên cạnh cho điểm số.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Quan điểm tiếp cận: Tiếp cận trải nghiệm, tiếp cận năng lực và tiếp cận hệ thống.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng phương pháp hồi cứu tài liệu để phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa các nguồn tư liệu khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ giảng dạy môn Giáo dục học của giảng viên để thu thập thông tin về hoạt động dạy và học trên lớp.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giảng viên về nhận thức, điều kiện tổ chức và phương pháp giảng dạy.
- Phương pháp sử dụng phiếu hỏi: Xây dựng bảng hỏi kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở dành cho giảng viên giảng dạy Giáo dục học và sinh viên năm thứ ba sư phạm.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia lý luận dạy học và phương pháp giảng dạy bộ môn về tính cần thiết, khả thi và hiệu quả của quy trình.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Phân tích kế hoạch bài giảng của giảng viên, bài tập và sản phẩm hoạt động nhóm của sinh viên.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm có nhóm đối chứng, thực hiện qua 2 vòng trên sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu định lượng từ phiếu khảo sát và các bài kiểm tra thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010. Các tham số thống kê gồm: điểm trung bình ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), kiểm định T-test và phân tích phương sai (ANOVA).
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn bản pháp lý: Nghị quyết số 29-NQ/TW, Luật Giáo dục 2009.
- Chương trình chi tiết, đề cương và giáo trình môn Giáo dục học tại các trường đại học sư phạm.
- Dữ liệu khảo sát từ giảng viên và sinh viên tại 5 trường đại học (ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2, ĐH Hải Phòng, ĐH Vinh, ĐH Tân Trào).
- Hồ sơ giáo án, bảng điểm kiểm tra trước và sau thực nghiệm, sản phẩm dự án và phiếu tự đánh giá của sinh viên tham gia thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống lý luận về dạy học theo tiếp cận trải nghiệm trong giáo dục đại học và đào tạo sư phạm. Tác giả phân tích mục tiêu dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm nhằm phát triển 5 nhóm năng lực:
- Năng lực ứng dụng tri thức Giáo dục học vào thực tiễn nghề nghiệp (gồm năng lực dạy học: vận dụng phương pháp/hình thức tổ chức, tổ chức hoạt động học tập, quản lý lớp học; và năng lực giáo dục: giáo dục qua môn học, lập kế hoạch giáo dục, vận dụng phương pháp giáo dục, tổ chức hoạt động giáo dục, xử lý tình huống sư phạm);
- Năng lực làm việc độc lập;
- Năng lực hợp tác;
- Năng lực khám phá và sáng tạo;
- Năng lực nhận thức và tích cực hóa bản thân.
Về mặt nội dung, chương trình môn Giáo dục học ở trường đại học sư phạm được tổng hợp theo cấu trúc 3 phần:
| Phần chương trình |
Các chương nội dung chi tiết |
| Phần 1: Những cơ sở chung của Giáo dục học |
Chương 1: GDH là một khoa học về giáo dục con người Chương 2: Giáo dục với sự phát triển xã hội và phát triển cá nhân Chương 3: Mục đích và nguyên lý giáo dục Chương 4: Hoạt động sư phạm của giáo viên trong nhà trường phổ thông |
| Phần 2: Lý luận và tổ chức quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông |
Chương 1: Quá trình dạy học Chương 2: Nội dung dạy học Chương 3: Phương pháp và phương tiện dạy học Chương 4: Hình thức tổ chức dạy học Chương 5: Đánh giá kết quả học tập của học sinh |
| Phần 3: Lý luận và tổ chức quá trình giáo dục trong nhà trường phổ thông |
Chương 1: Quá trình giáo dục Chương 2: Nội dung giáo dục Chương 3: Phương pháp giáo dục Chương 4: Tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông Chương 5: Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trong nhà trường phổ thông |
Chương này cũng xác định bốn phương pháp dạy học cốt lõi theo tiếp cận trải nghiệm gồm: dạy học dự án, phương pháp tình huống, phương pháp giải quyết vấn đề và phương pháp thảo luận nhóm; cùng hình thức dạy học trên lớp kết hợp không gian điện tử và bài tập trải nghiệm thực tế.
Chương 2: Thực trạng dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 5 trường đại học (ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2, ĐH Hải Phòng, ĐH Vinh, ĐH Tân Trào). Các nội dung điều tra tập trung vào:
- Nhận thức của giảng viên về đặc điểm, ưu điểm, nhược điểm và sự phù hợp của dạy học trải nghiệm đối với hoạt động học tập của sinh viên đại học;
- Nhận thức của giảng viên và sinh viên về vai trò của phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trải nghiệm đối với kết quả học tập;
- Mức độ thực hiện các khâu: xác định mục tiêu, thiết kế nội dung dưới dạng bài tập trải nghiệm, sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, mức độ sử dụng các hoạt động dạy học và phương pháp đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục học.
Kết quả khảo sát phản ánh: Đa số giảng viên nhận thức đúng đắn về sự cần thiết và ưu điểm của tiếp cận trải nghiệm trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên. Tuy nhiên, việc triển khai trong thực tế còn nhiều bất cập: việc thiết kế nội dung thành các bài tập trải nghiệm gắn với thực tiễn phổ thông chưa thường xuyên; các phương pháp dạy học tích cực (dự án, tình huống) chưa được phối hợp theo quy trình hoàn chỉnh; hình thức đánh giá chủ yếu vẫn dừng lại ở việc cho điểm bài thi, chưa chú trọng đánh giá quá trình và tạo điều kiện cho sinh viên tự đánh giá. Các yếu tố ảnh hưởng chính gồm: nhận thức và năng lực điều phối của giảng viên, quỹ thời gian, điều kiện cơ sở vật chất và sự thiếu vắng tài liệu hướng dẫn cụ thể.
Chương 3: Tổ chức dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm
Trên cơ sở lý luận và thực trạng, Chương 3 đề xuất quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm dựa trên sự tích hợp chu trình 4 giai đoạn của Kolb vào tiến trình dạy học đại học. Quy trình xác định rõ các bước phối hợp giữa hoạt động của giảng viên (thiết kế, định hướng, hỗ trợ, tổ chức, đánh giá) và hoạt động của sinh viên (huy động kinh nghiệm, thực hiện trải nghiệm, phản ánh, khái quát hóa tri thức và thực hành ứng dụng).
Chương này cụ thể hóa việc vận dụng quy trình vào hai phương pháp dạy học chủ đạo:
- Dạy học dự án: Thiết kế hệ thống bài tập trải nghiệm gắn với các chủ đề bài học cụ thể, phân công nhiệm vụ nhóm, xác định nguồn tư liệu và xây dựng kế hoạch thực hiện dự án;
- Dạy học tình huống: Xây dựng và sử dụng hệ thống tình huống sư phạm thực tế để sinh viên phân tích, đóng vai, tranh luận và đưa ra giải pháp ứng xử.
Đồng thời, luận án xác định ba nhóm điều kiện đảm bảo thực thi quy trình:
- Sự chỉ đạo, quản lý và tạo điều kiện về cơ chế của Ban Giám hiệu trường sư phạm;
- Năng lực sư phạm, sự chủ động và am hiểu tiếp cận trải nghiệm của đội ngũ giảng viên Giáo dục học;
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và hệ thống tài liệu hướng dẫn, tham khảo phục vụ dạy học trải nghiệm.
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 trình bày quá trình và kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trên sinh viên năm thứ hai ở hai vòng:
- Vòng 1 (Khóa 41): So sánh giữa lớp Thực nghiệm 1 (TN1) và lớp Đối chứng 1 (ĐC1).
- Vòng 2 (Khóa 42): So sánh giữa lớp Thực nghiệm 2 (TN2) và lớp Đối chứng 2 (ĐC2).
Quy trình thực nghiệm được kiểm soát qua việc đo lường đầu vào (trước thực nghiệm) và đầu ra (sau thực nghiệm) bằng các bài kiểm tra đánh giá kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp.
Phân tích kết quả:
- Về mặt định lượng: Phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh giá trị trung bình điểm kiểm tra trước thực nghiệm cho thấy sự tương đồng giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng (sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê). Sau thực nghiệm, kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm (TN1, TN2) có giá trị trung bình điểm số cao hơn rõ rệt so với lớp đối chứng (ĐC1, ĐC2), độ lệch chuẩn giảm, tỷ lệ sinh viên đạt loại khá - giỏi ở lớp thực nghiệm tăng cao, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
- Về mặt định tính: Thông qua quan sát và phiếu tự đánh giá, sinh viên lớp thực nghiệm thể hiện mức độ tích cực, hứng thú học tập cao, phát triển kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm và tự tin hơn trong các hoạt động thực hành nghề nghiệp. Giảng viên tham gia đánh giá khẳng định quy trình có tính cần thiết, phù hợp và khả thi trong điều kiện dạy học đại học sư phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Xác định phạm trù khái niệm dạy học theo tiếp cận trải nghiệm trong bối cảnh đào tạo đại học sư phạm.
- Xây dựng khung lý luận về dạy học theo tiếp cận trải nghiệm ở đại học và dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm ở trường đại học sư phạm, làm cơ sở khoa học định hướng cho giảng viên bộ môn.
- Cụ thể hóa hệ thống mục tiêu môn Giáo dục học theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp (năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực làm việc độc lập, hợp tác, sáng tạo, tự tích cực hóa).
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Nhận diện và phân tích toàn diện thực trạng dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm tại 5 trường đại học sư phạm đại diện cho các vùng miền ở Việt Nam.
- Xây dựng quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm và hướng dẫn vận dụng cụ thể vào phương pháp dạy học dự án và phương pháp dạy học tình huống.
- Thực nghiệm sư phạm qua 2 vòng tác động, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của quy trình trong việc nâng cao kết quả học tập và năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm.
Giải pháp và điều kiện thực hiện:
Luận án chỉ ra 5 điều kiện cơ bản để quy trình đạt hiệu quả:
- Bài tập trải nghiệm phải gắn với thực tiễn nghề nghiệp giáo viên và phục vụ thực tiễn giáo dục phổ thông;
- Giảng viên tuân thủ đúng các bước của quy trình tổ chức dạy học theo tiếp cận trải nghiệm;
- Có sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Ban Giám hiệu nhà trường về thời gian, cơ chế và cơ sở vật chất;
- Giảng viên nắm vững chuyên môn môn Giáo dục học và chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy;
- Đảm bảo nguồn tài liệu tham khảo và tài liệu hướng dẫn về dạy học theo tiếp cận trải nghiệm cho giảng viên và sinh viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực trạng mới được tiến hành tại 5 trường đại học và chỉ tập trung vào sinh viên năm thứ ba các khoa cơ bản không chuyên ngành Tâm lý - Giáo dục.
- Khách thể thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai trên đối tượng sinh viên năm thứ hai tại một cơ sở đào tạo là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm quy trình trên nhiều đối tượng sinh viên thuộc các ngành sư phạm và các trường đại học sư phạm khác nhau trên cả nước.
- Nghiên cứu vận dụng quy trình tổ chức dạy học theo tiếp cận trải nghiệm vào các môn khoa học giáo dục và nghiệp vụ sư phạm khác trong chương trình đào tạo giáo viên.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên giảng dạy môn Giáo dục học: Tham khảo trực tiếp quy trình tổ chức dạy học, cách thiết kế hệ thống bài tập trải nghiệm, chủ đề dự án học tập và cách thức tổ chức dạy học tình huống trên lớp để đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục, Lý luận dạy học: Sử dụng khung lý thuyết về mô hình trải nghiệm của David A. Kolb, phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng và thiết kế thực nghiệm sư phạm 2 vòng có đối chứng.
- Cán bộ quản lý đào tạo tại các trường đại học sư phạm: Sử dụng dữ liệu thực trạng và các điều kiện đảm bảo thực thi để chỉ đạo đổi mới chương trình, kiểm tra đánh giá theo chuẩn đầu ra và trang bị học liệu phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng mô hình lý thuyết nào làm nền tảng để xây dựng quy trình dạy học?
Luận án dựa trên mô hình học tập qua trải nghiệm của David A. Kolb (1984), bao gồm chu trình xoắn ốc 4 giai đoạn: Kinh nghiệm cụ thể; Quan sát - phản ánh; Khái niệm hóa trừu tượng; Thực hành chủ động; kết hợp cùng hai trục biện chứng là trục nắm bắt kinh nghiệm và trục chuyển đổi kinh nghiệm.
2. Dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm hướng tới phát triển những năng lực cụ thể nào cho sinh viên?
Luận án xác định 5 nhóm năng lực cốt lõi: 1) Năng lực ứng dụng tri thức Giáo dục học vào thực tiễn (gồm năng lực dạy học và năng lực giáo dục); 2) Năng lực làm việc độc lập; 3) Năng lực hợp tác; 4) Năng lực khám phá và sáng tạo; 5) Năng lực nhận thức và tích cực hóa bản thân.
3. Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai ở đâu?
Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 5 trường đại học: ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2, ĐH Hải Phòng, ĐH Vinh và ĐH Tân Trào. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên sinh viên năm thứ hai tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 qua 2 vòng (Khóa 41 và Khóa 42).
4. Quy trình dạy học đề xuất được vận dụng vào những phương pháp dạy học cụ thể nào?
Quy trình được luận án thiết kế và hướng dẫn vận dụng chi tiết vào hai phương pháp dạy học điển hình: phương pháp dạy học dự án (thông qua các bài tập trải nghiệm theo chủ đề) và phương pháp dạy học tình huống (thông qua phân tích, xử lý các tình huống sư phạm giả định và thực tế).
5. Luận án sử dụng các công cụ và kỹ thuật thống kê nào để xử lý số liệu thực nghiệm?
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010 để tính toán và xử lý các tham số thống kê gồm: điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, phân phối tần suất, kiểm định T-test và phân tích phương sai (ANOVA) nhằm so sánh kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Doãn Ngọc Anh đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên tại các trường đại học sư phạm ở Việt Nam. Bằng việc vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của David A. Kolb, công trình đã xây dựng thành công quy trình tổ chức dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận trải nghiệm và minh chứng tính khả thi, hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm hai vòng. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị, góp phần nâng cao kết quả học tập và hình thành năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.