Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO THUYẾT KIẾN TẠO MÔN SÁNG TÁC MẪU TRANG PHỤC, TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU DẠY HỌC THEO THUYẾT KIẾN TẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, việc chuyển đổi từ dạy học lấy GV làm trung tâm sang lấy HS làm trung tâm đòi hỏi có sự thay đổi cách thức tổ chức quá trình dạy học. Dạy học theo thuyết kiến tạo được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới Từ thời Hy Lạp cổ đại, nhà triết học, nhà giáo dục Sokrates đã khơi nguồn những tư tưởng đầu tiên của lý thuyết kiến tạo.
Sokrates cho rằng, ông không thể dạy cho ai bất cứ điều gì mà chỉ có thể làm cho họ suy nghĩ. Ông luôn dùng các câu hỏi trực tiếp để người học trả lời và tự nhận ra điều mấu chốt bằng suy nghĩ của chính họ. Đặt câu hỏi trong dạy học là tiền đề phát triển cho các nghiên cứu sau này về thuyết kiến tạo. Đến thế kỷ XVI, Galileo Galile cho rằng: “Người ta không thể dạy một người nào đó, mà có thể giúp đỡ người đó tự mình khám phá”.
Đây có thể xem là tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo, khi đặt vai trò chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức [6, tr 31]. Sự tiếp nối về tư tưởng thuyết kiến tạo xuất hiện khoảng thế kỷ XVII, với quan điểm của J.Comenxki: Dạy học phải phát huy tính tích cực, trực quan và tính cách của học viên. Theo Comenxki: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm phán đoán, phát triển nhân cách.hãy tìm ra những phương pháp cho học sinh học được nhiều hơn mà giáo viên lại ít dạy hơn”. Comenxki đã sử dụng những phương pháp dạy học kích thích phải tìm tòi, suy nghĩ để có thể hiểu được bản chất của hiện tượng và sự vật [52, tr 2].
8 Luan van Đến cuối thế kỉ XVIII, tư tưởng kiến tạo được tiếp tục với quan điểm của nhà triết học Giambattis Vico. Theo Vico, con người chỉ thể hiện một cách rõ ràng những gì mà chính họ xây dựng nên. Con người cần có thông tin trước khi học bất cứ điều gì, thông tin này chỉ tồn tại bên trong kinh nghiệm mỗi cá nhân. Để mô tả quá trình thu nhận kiến thức của con người, ông sử dụng từ “Construction - kiến tạo” để mô tả quá trình tiếp nhận và xây dựng kiến thức của con người [13, tr 205].
Đồng quan điểm với Vico, I.Kant cho rằng, kiến thức có thể được phát triển trong tư duy con người, chỉ bằng cách tổ chức thông tin vào trong những cấu trúc nhận thức sẵn có. Kant đề ra khái niệm sơ đồ tiên nghiệm, là sơ đồ hình thức để tổng hợp tư liệu cảm tính vào trong đó [23]. Tiếp nối sự phát triển của thuyết kiến tạo, Jean-Jacques Rousseau nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng cũng cho rằng, giáo dục phải hướng người học bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo với sự tích cực giành lấy kiến thức cho chính họ, ông cho rằng dạy học là giao việc cho HS “làm” chứ không phải giao vấn đề cho HS “học” [59]. Thuyết kiến tạo phát triển mạnh hơn khi Jean Piaget và John Dewey nêu lên các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em.
Jean Piaget cho rằng: “Con người học tập thông qua việc thiết lập những chuỗi logic liên tiếp nhau, câu này nối tiếp câu kia”. Jean Piaget cũng kết luận rằng:“Phương thức suy nghĩ của trẻ em hoàn toàn khác so với người trưởng thành” [32, tr 72]. Đây chính là cơ sở của việc giáo dục dựa trên thuyết kiến tạo. John Dewey yêu cầu mục tiêu giáo dục phải được xây dựng dựa trên kinh nghiệm thực tế.
Dewey viết: “Nếu bạn nghi ngờ rằng quá trình học diễn ra như thế nào, hãy tham gia vào các câu hỏi liên tiếp, nghiên cứu, suy nghĩ, cân nhắc các khả năng khác nhau, từ đó hình thành niềm tin dựa vào các bằng chứng cụ thể. Tư tưởng kiến tạo xuất hiện tại phương Đông từ khoảng giửa thế kỷ XX qua các nghiên cứu của Tsunesaburo Makiguchi, nhà cải cách giáo dục nổi tiếng của Nhật Bản. Để đánh thức sự chủ động trong chiếm lĩnh kiến thức, theo Makiguchi 9 Luan van GV nên hướng dẫn quá trình học tập và hoạt động nhận thức, để HS tự phát triển. Mục tiêu của giáo dục là đặt trách nhiệm học tập vào bản thân HS [52].
Trên thế giới, các triết gia, nhà tâm lý học có công trong việc tạo thêm những triển vọng mới cho thuyết kiến tạo và áp dụng thuyết kiến tạo vào thực tiễn là: Lev Vygotsky, Jerome Bruner.Vygotsky đã đưa khía cạnh xã hội của việc học vào thuyết kiến tạo. Ông định nghĩa “vùng phát triển gần” (zone of proximal learning) – điều mà HS tìm ra vượt qua trình độ phát triển hiện tại của HS (nhưng vẫn nằm trong ngưỡng phát triển tiềm năng của họ) dưới sự hướng dẫn của người lớn hoặc hợp tác với các bạn học có năng lực hơn [32] [33, tr 63]. Bruner đề xướng thay đổi chương trình dựa trên quan điểm học tập là một quá trình tích cực và mang tính xã hội; trong đó, HS tổ chức nên những ý kiến mới và các khái niệm dựa trên kiến thức hiện tại của họ [7, tr. Đến ngày nay, thuyết kiến tạo được xem là một trong những quan điểm giáo dục hiện đại, góp phần tích cực trong việc rèn luyện kĩ năng tự học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Những nhà giáo dục hiện đại trên thế giới đã nghiên cứu, viết và áp dụng thuyết kiến tạo vào giáo dục bao gồm: John D.Bransford, Ernst von Glasersfeld, Eleanor Duckworth, George Forman, Roger Schank, Jacqueline Grennon Brooks, và Martin G. Khi nghiên cứu vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học môn Toán Ứng dụng lớp 12, Partica Forster (1996) tiến hành nghiên cứu xây dựng các mô hình học tập tích cực và kết hợp ứng dụng công nghệ cho môn toán. Nghiên cứu được tiến hành ở 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Cũng cố kiến thức, HS tạo lập các ma trận toán học, áp dụng công nghệ và văn học trong giải toán. - Giai đoạn 2: Kiến tạo kiến thức, HS xây dựng kiến thức cho mình thông qua tương tác nhóm học tập thực hành giải toán ứng dụng, với ứng dụng công nghệ máy tính cùng với sự hỗ trợ của tài liệu tham khảo và GV.
10 Luan van - Giai đoạn 3: Kiến tạo kiến thức cá nhân, HS chủ động giải quyết vấn đề theo kiến thức cá nhân mà không có sự hỗ trợ nhóm, GV hay tài liệu và máy tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vai trò tổ chức gợi mở và hỗ trợ của GV là cần thiết, vai trò chủ động học tập của HS có kết quả cao đúng với quan điểm dạy học theo thuyết kiến tạo. Theo Partica Forster, chủ động học tập của HS sẽ đạt kết quả tốt hơn khi có hỗ trợ của công nghệ. Các kiến thức văn học nghệ thuật và lý thuyết của môn toán, giúp HS trình bày các lời giải toán, các kiến thức cá nhân áp dụng giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
Việc xây dựng môi trường học tập xã hội tạo nên sự chủ động tích cực, bảo vệ kết quả học tập, kết quả học tập được kiểm chứng bằng công nghệ máy tính. Quá trình kiến tạo kiến thức một cách tích cực chủ động và dễ dàng hơn khi có sự cũng cố kiến thức, trao đổi tranh luận hiệu chỉnh kiến thức với hỗ trợ máy tính, tài liệu tham khảo và giáo viên hướng dẫn [67]. Nghiên cứu dạy học môn Toán theo quan điểm kiến tạo, Paul Cobb đã nhấn mạnh về môi trường học tập. Theo Paul Cobb, mối quan hệ tương tác giúp các thành viên của nhóm học, lớp học, các nhóm khác nhau có vai trò quan trọng trong kết quả kiến tạo tri thức.
Giá trị của sự tương tác xã hội của người học luôn tỷ lệ thuận với kết quả học tập [68]. Nghiên cứu vận dụng thuyết kiến tạo vào đào tạo công nhân kỹ thuật may, Kiaer.C (2001) cho rằng từ những kiến thức kỹ năng có trước kết hợp sự chủ động kiến tạo tri thức mới, sẽ góp phần phát triển kỹ năng của công nhân về thiết kế, vẽ, quy trình trong công nghệ may mặc. Ngoài ra, Kiaer khẳng định việc vận dụng thuyết kiến tạo làm cho công nhân chủ động tích cực và phối hợp trao đổi trong tương tác khi giải quyết đề, công nhân sáng tạo hơn trong thiết kế và phát triển năng lực nghề nghiệp, điều này góp phần gia tăng sản lượng và hiệu quả sản xuất trong ngành may mặc [62]. Khi nghiên cứu vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học nội dung “Kiến tạo vải và thiết kế trang phục cho sinh viên”, Natalia Adaskina (2009) đã nhấn mạnh 11 Luan van tầm quan trọng các kiến thức đã có của sinh viên để giải quyết các vấn đề được đặt ra.
Sự phối kết hợp các kiến thức, kỹ năng từ các môn học của sinh viên với thiết kế các mẫu vải có những họa tiết mới, hoa văn nhẹ, đường kẻ sọc, kẻ ngang, kết hợp những ô tròn.để kiến tạo ra những thiết kế về trang phục thể thao, áo khoác,. Natalia Adaskina đã khẳng định: vận dụng thuyết kiến tạo trong việc Kiến tạo trong vải may mặc và thiết kế trang phục đã được có từ những năm 1920 của nhà thiết kế Liên Xô. Đến ngày nay các nhà tạo mẫu cũng đã kế thừa và vô cùng khéo léo ứng dụng sáng tạo trong các sản phẩm của mình [66]. Như vậy, vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, không chỉ vận dụng trong dạy học vào các môn học phổ thông mà còn vận dụng trong GDNN và lĩnh vực khác trong xã hội.
Dạy học theo thuyết kiến tạo còn được áp dụng trong dạy học lĩnh vực thiết kế thời trang để thúc đẩy sự sáng tạo nghệ thuật. Thuyết kiến tạo trong dạy học lĩnh vực thiết kế thời trang và nghệ thuật góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người nghệ sĩ sáng tác nghệ thuật, nhà thiết kế thời trang, tạo nên những tác phẩm, sản phẩm mang tính nghệ thuật và ứng dụng cao. Tại Việt Nam Trong công cuộc đổi mới giáo dục, Việt Nam có nhiều nghiên cứu về đổi mới PPDH, với mục đích bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS. Dạy học theo thuyết kiến tạo đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.