CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ PHÁT TRIÊN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CAU DOI MOI GIAO DUC PHO THONG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Giáo dục là một phân cấu thành quan trọng đặc biệt của xã hị liên quan mật thiết nhất tới sự phát triển toàn diện con người cũng như sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong lịch sử của nhân loại, tử rất sớm các nước trên thể giới đã nghiên cứu về sự phát triển của giáo dục củng với sự phát triển của ĐNGV, phát triển ĐNGV sẽ góp phần rất lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực của ngành.
Sự phát triển của giáo dục mà ở đỏ giáo dục phổ thông đã và đang đặt ra những. yêu cầu mới ngây cảng cao đối với - những chủ thể quan trọng của quá trình giáo dục trong nha trường. Vì vậy các nghiên cứu về ĐNGV ngày cảng được chú trọng. Nha xã hội học người Mỹ, Leoard Nadle đã đưa ra hồ sơ quản lý nguồn nhân lực với ba nhiệm vụ chính đỏ là: phát triển nguồn nhân lực (giáo dục, đảo tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, sảng loc, bố trí, đánh giá, đãi ngô, kế hoạch hóa sức lao động): môi trường nguồn nhân lực.
(mở rộng chủng loại làm việc, mở rộng qui mô lảm việc, phát triển tô chức [26] các nước có nền giáo dục phát triển, yêu cầu và tiêu chỉ của chất lượng GV cũng được đặt ra theo yêu câu của sự phát triển giáo dục - đảo tạo vả nhu cầu tăng. trưởng kinh tế. Vì thể, chất lượng ĐNGV đã được nhiều nước trên thể giới quan tâm. Tháng 4 năm 2000, tại Dakar - Senégal, Diễn đàn giáo dục cho mọi người do.
UNESCO tổ chức đã coi chất lượng GV lä một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là GV có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên. Năng lực chuyên môn cân phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có trí thức sư phạm, có tri thức vẻ sự phát triển, có sự é é động co, c6 tri thite vé viée hoe tap, lam chủ được các chiến lược đạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và sự đảnh giá cao vẻ sự cộng tác, có. khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học. Một trong những yếu tổ then chốt quyết định thành công trong đổi mới giáo dục của các quốc gia trên thể giới là chú trọng sự phát triển nghề nghiệp của ĐNGV.
Trong thời gian gần đây, những nghiên cứu trên thể giới đều dành sự quan tâm. đặc biệt đến chuẩn nghề nghiệp GV đối với sự phát triển công nghệ dạy học. Một trong những nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp GV lả nghiên cứu xây dựng và chuyển giao các mô hình phát triển nghề nghiệp của GV. Nhiéu mô hình được phat triển vả thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy và hỗ trợ GV phát triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ hưu.
Nhiều nước đã xây dựng bộ chuẩn cho. nước mình (chuân chất lượng GD, chuẩn nhả trường, chuẩn CBQL, chuân GV. Theo đánh giá tổng quát của White, Makkonen và Stewart (2009) về chuẩn nghề nghiệp GV các bang Ohio, Illinois, North Carolina và California của Hoa Kỳ đã phát triển chuân nghề nghiệp bao phú tất cả các đối tượng GV, từ GV mới vào nghề cho đến GV chuyên nghiệp, với cầu trúc, đối tượng mục tiêu và nội dung phủ hợp với quan điểm của mỗi bang. Một số nha nghiễn cứu cũng nêu lên tầm quan trọng của các chuẩn như: Nghiên cứu của Bercaw va Stooksberry nhấn mạnh tầm quan trọng của các tiêu chuan ¡ với những GV mới vảo nghề, vì các tiêu chuẫn này giúp hiểu rõ quả trình phát triển thực tiễn giảng dạy.
'Yêu cầu vả tiêu chỉ của chất lượng GV Ở các nước phát triển hiện nay cing được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục và đảo tạo và yêu cầu phát triển kinh tế. Vĩ thế, chất lượng ĐNGV là vấn đề luôn được các nước trên thế giới quan tâm. Công trình nghiên cửu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một cần có các phẩm chất, đỏ là: Có kiến thức phong phú về phạm vi chương. trình và nội dung bộ môn mình dạy; có kĩ nãng sư phạm về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp; có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quan li trong và ngoài lớp học; biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác [19].
Liên minh Châu Âu cho rằng, phát triển ĐNGV là vấn đẻ trọng tâm đề nâng cao. chất lượng giáo dục của các trưởng học. Chất lượng giáo dục cao chỉ có thê được đảm. bảo bằng việc đảo tạo, bồi dưỡng GV một cách liên tục và bằng chất lượng rèn tay nghề cho GV và các nhân viên phục vụ hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường.
GV không chí là người giỏi về chuyên môn mà còn phải là người học liên tục, suốt đời. Bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho GV lả chính bản thân giáo viên tham. gia vào quả trình bỗi dưỡng vả quản lý các hoạt động bồi dưỡng của mình chứ không. chỉ là việc cấp trên quản lý hoạt động bỗi dưỡng nả: Vì vậy, các Quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới cẩn chú trọng phát triển ĐNGV trong quá trình đổi mới và phát triển giáo dục.
Các nghiên cứu trong nước. ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt để phát triển một nền giáo dục có chất lượng, công bằng và hiệu quả, đồng thời nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cá mọi người, đám báo những điều kiện cơ bản thích ứng với xu thể phát triển của giới. Do vậy, đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu cúa các tác giả trong nước về phát triển ĐNGV nỏi chung và phát triển ĐNGV THCS nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến chất lượng ĐNNG.
Người da chi rd: “Van dé then chét, quyét định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trưởng, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi dao đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề đề thực sự là tắm gương sáng cho học sinh noi theo” [28]. Đó là tư tưởng chiến lược để xây dựng và phát triển nền quốc học Việt Nam, sự nghiệp giáo dục của nước nhả. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt hơn nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng vả phát triên ĐNGV, trong đó có việc nghiên cứu về ĐNGV. nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển khai trong các giai đoạn lịch sử phát triển của nên giáo dục Việt Nam.
Bản về tính chất nghề nghiệp của ĐNGV, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003) nhấn mạnh vấn đề “lý tưởng sư phạm” - yếu tô tạo nên ng cơ cho việc thực hành nghề dạy học của GV, thôi thúc người GV sáng. thúc đây người GV không ngừng học he nâng cao trình độ. Từ đó, tác giả đề xuất cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mã ở đó GV trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người GV là nên tảng của mô hình đào tạo giáo viên thế kỷ XXI * Sáng tạo và hiệu quả” [24] Bàn về chất lượng ĐNGV, Trần Kiểm (2004) coi đó là yếu tố quan trọng hãng đầu và đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục thì không thể không chú ý trước hết về chất lượng ĐNGV đủ về số lượng, đồng. ộ về cơ câu và tay nghề ngày càng được nang cao [21].
Dựa trên kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD, Nguyễn Thanh Hoàn (2003) đã đưa ra các đặc điềm và năng lực đặc trưng của một GV có năng lực thông qua phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc đội tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng để cập những chính sách cải thiện vả duy trì chất lượng giáo viên ở cấp vĩ mô vả vi mô, từ đó nhắn mạnh đến ba vấn để quyết định chất lượng GV bao gồm: bản thân người giáo viên, nhà trường và môi trưởng chính sách bên ngoài [18]. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001, tác giảTrên Bá Hoành đã để xuất cách tiếp cận chất lượng GV từ các góc độ: giả, phẩm chất của GV biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yênsagas năng lực người GV bao gồm: năng lực chân đoán như cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng. lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết những vẫn để nảy sinh trong thực tế dạy học [L7] Ba nhan t6 anh hưởng đến chất lượng GV 1a: Qua trinh dao tao - sit dung - bai dưỡng GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm cúa GV, ý chí thói quen và năng lực tự học của GV.
Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề GV: phải đôi mới công. tác đảo tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV. Trong bài viết “Chat lượng GV vả những chỉnh sách cải thiên chất lượng GV” đãng trên Tạp chỉ phát triển giảo dục số 2 năm 2003, tác giá Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bảy khái niệm chất lượng GV bằng cách phân tích kết quả nghiên cửu vẻ chất lượng GV của các nước thành viên OECD [18]. Tác giá đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một GV có năng lực qua sự phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc đô tiếp cận năng lực giảng dạy vả giáo dục.
Tác giả cũng đề cập những chính sách cải th n va duy trì chất lượng GV ở cấp vĩ mô và vĩ mô; từ đỏ, tác giả nhắn mạnh đến ba vấn đề nguồn quyết định chất lượng GV lả: bản thân người GV, nhà trường, môi trưởng chính sách bên ngoài.