phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ GV THCS vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Thực trạng phát triển đội ngũ GV THCS vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Các biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ VÙNG CÓ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp đã đƣợc triển khai một cách khá hệ thống, bởi các quốc gia có nền giáo dục phát triển đều đã và đang thực hiện quản lí phát triển giáo dục dựa vào chuẩn/tiêu chuẩn. Theo nghiên cứu của Anthony Jones (Trƣờng Đại học Melbourne, 2005), việc xây dựng chuẩn trong giáo dục nói chung, chuẩn nghề nghiệp giáo viên nói riêng đã đƣợc nghiên cứu nhiều ở Hoa Kỳ.
Ủy ban quốc gia chuẩn nghề dạy học của Hoa Kỳ đƣợc thành lập năm 1987 đã đề xuất 5 nội dung cốt lõi để các bang vận dụng trong quản lí giáo viên theo chuẩn, bao gồm: (1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh; (2) Giáo viên vừa phải có trách nhiệm trong giảng dạy, vừa phải thực hiện tốt kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; (3) Giáo viên phải làm chủ đƣợc môn mình dạy, biết cách dạy môn của mình và có khả năng liên hệ hiệu quả với các môn khác; (4) Giáo viên phải thƣờng xuyên sáng tạo và tích lũy kiến thức, kinh nghiệm về nghề nghiệp; (5) Giáo viên phải là thành viên tin cậy trong cộng đồng giáo dục, biết cách cộng tác hiệu quả với đồng nghiệp, hợp tác tích cực với cha mẹ học sinh [91]. Các nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên cũng đƣợc thực hiện ở nhiều nƣớc khác nhƣ Vƣơng Quốc Anh, Liên Bang Đức, Úc, Trung Quốc. Các quốc gia này sử dụng chuẩn nghề nghiệp giáo viên để phát triển các chuẩn đánh giá giáo viên, thực hiện quản lí giáo viên theo chuẩn (dẫn theo Trần Bá Giao) [37]. 11 Hiện nay, hầu hết hệ thống giáo dục của các nƣớc nói tiếng Anh đã tài trợ cho các công trình và đang có hàng loạt các dự định nghiên cứu về việc xác định và mô tả các phẩm chất, năng lực cần thiết cho thành công trong dạy học.
Các công trình nghiên cứu này ngày càng nhiều và vấn đề nghiên cứu ngày càng đƣợc mở rộng. Những công trình nghiên cứu này đã khẳng định tầm quan trọng của khả năng và kĩ năng (năng lực) của mỗi giáo viên trong các yếu tố quyết định hiệu quả của nhà trƣờng (Calderhead. Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra những yếu tố tạo ra chất lƣợng dạy học tốt. Theo đó, các tác giả đã nêu ra quan điểm: nếu có thể thành công trong việc xây dựng một bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên thì cũng cần có các yêu cầu trong việc xây dựng các chƣơng trình đào tạo giáo viên mà chuẩn đầu ra phải gắn với chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
Việc xác định phƣơng pháp tiếp cận hợp lý nhất cho việc đào tạo giáo viên là vấn đề luôn tồn tại trong giáo dục. Những nghiên cứu này liên quan đến các quan điểm về phát triển nghề nghiệp giáo viên và những phƣơng thức phát triển đã đƣợc kiểm nghiệm qua thực tế suốt thập kỉ 70 và 80 của thể kỉ XX ở các nƣớc nói tiếng Anh gần đây đã và đang vấp phải một số thách thức. Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả nhƣ: Abdal - Haqq, I. Trong bối cảnh này, ngƣời ta tranh luận rằng bộ khung lí thuyết qui định các phẩm chất cần có của giáo viên sẽ phải gắn với phƣơng thức đào tạo giáo viên.
Phƣơng thức đó sẽ phải xác định mục tiêu đào tạo; đầu vào, đầu ra của đào tạo; và so sánh đánh giá với mục tiêu đào tạo đã xác định để có các điều chỉnh hợp lý. Những nhà bình luận cho rằng, cùng với việc làm hài lòng nhà chức trách có thẩm quyền cấp tài chính, việc sử dụng bộ khung đã nêu sẽ giúp hiệu quả thêm cho chƣơng trình đào tạo. Chƣơng trình lẽ ra phải có trọng tâm và gắn kết hơn làm nền tảng cho các hành động của những ngƣời tham gia vào 12 quá trình đào tạo ở những cơ sở, trƣờng và đơn vị khác nhau liên quan đến giáo dục (Indiana Department of Education, 2007) [102]. Cho đến nay, hầu nhƣ chƣa có một phƣơng thức đƣợc chấp nhận chung để quan sát, mô tả, đánh giá kĩ năng giảng dạy (đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên).
Những biện pháp khuyến khích chung chung của các cấp quản lý thƣờng gặp khó khăn khi áp dụng, thƣờng không mang tính chính thức và vì thế hiệu quả mang lại bị hạn chế. Ngoài ra, việc đặt ra những hình thức khen thƣởng lại gặp phải vƣớng mắc điển hình là không có các minh chứng để chỉ ra đƣợc cụ thể các cấp độ (mức độ) khác nhau giữa giáo viên dạy giỏi với các giáo viên khác trong cùng một nhà trƣờng. Sự khác biệt mức lƣơng giữa các giáo viên trong cùng một nhà trƣờng là không lớn trong hầu hết các quốc gia. Mức lƣơng của các giáo viên đƣợc trả hầu nhƣ gắn với thời gian công tác ít năm hay nhiều năm và đƣợc áp dụng cho tất cả mọi ngƣời, bất kể năng lực dạy học của họ nhƣ thế nào – dạy giỏi hoặc bình thƣờng, điều này là một bất cập lớn.
Giáo viên ngày càng tìm kiếm cách thức để nói lên tiếng nói của mình về những việc nhƣ: bằng cấp và việc tuyển dụng vào nghề của họ; sự công nhận khả năng tiến bộ nghề nghiệp; những yêu cầu về việc cần phải học lên cao; các cách thức để xác định những ngƣời dạy không đủ năng lực cần phải đƣợc bồi dƣỡng thêm; thƣởng phạt cần rõ ràng. Điều đó chứng tỏ ƣớc muốn đƣợc coi nghề giáo nhƣ một nghề có vị trí trong xã hội. Không những thế, nó còn bao hàm sự mong muốn chuyển đổi nghề giáo khỏi vị trí của ngƣời làm công hay công chức nhà nƣớc đơn thuần. Đại điện chính phủ, bộ giáo dục và các cấp quản lí giáo dục ở nhiều nƣớc đã thể hiện sự ủng hộ các quan điểm này.
Quan điểm đƣợc đƣa ra là cần có bộ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên để làm căn cứ cho việc đánh giá giáo viên phù hợp với vị trí nghề nghiệp của họ nhƣ một nghề chuyên môn. Với những tiến bộ trong khoa học về tâm lý cũng nhƣ về công nghệ, việc xác định kết quả trong giảng dạy và đối chiếu với bộ Chuẩn nghề nghiệp ở những giai đoạn khác nhau của sự phát triển nghề 13 nghiệp của một giáo viên là có tính khả thi và có nhiều khả năng đƣợc các giáo viên hoan nghênh (Griffin and Gillis, 1999. Dẫn theo Trần Bá Giao) [37]. Sự quan tâm của giáo viên và các cấp quản lý về những vấn đề trên đã thúc đẩy các hoạt động mới hiện nay trong lĩnh vực giáo dục, ngƣời ta gọi là “Chuẩn nghề nghiệp giáo viên”.
Thông qua các kết quả nghiên cứu đó, rất nhiều giáo viên và cơ sở đào tạo giáo viên, những ngƣời có liên quan đến công việc ở trƣờng học đƣợc hƣởng lợi nhờ những công trình nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp của giáo viên. Với các chính phủ cũng nhƣ lãnh đạo các địa phƣơng và cộng đồng, việc biên soạn, chấp nhận và triển khai bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên tạo ra nhận thức, sự hiểu biết chung và chính xác những gì một giáo viên phải thực hiện. Theo các quan điểm nêu trên, nếu các bằng cấp gắn với việc đạt chuẩn thì việc bảo đảm chất lƣợng dạy học của giáo viên là hiển nhiên khi đạt chuẩn trình độ đào tạo. Những ngƣời muốn vào nghề giáo và những ngƣời tuyển dụng họ cần phải biết bản mô tả đầy đủ, chi tiết những yếu tố phản ánh phẩm chất và năng lực mà GV phải có cũng nhƣ những việc mà GV phải làm.
Có thể khẳng định, những nghiên cứu quản lí phát triển giáo viên dựa vào chuẩn nghề nghiệp đã chỉ ra rằng: Bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên giúp giáo viên hiểu rõ hơn về mục đích, vai trò và giá trị của quá trình dạy học – giáo dục. Vì vậy mà học sinh và cha mẹ các em cũng nhƣ các nhà quản lí giáo dục các cấp cũng có đƣợc những lợi ích nhất định. Thông qua việc tham gia thảo luận, trao đổi để xây dựng bộ chuẩn nghề nghiệp, giáo viên cảm thấy mình đóng vai trò thiết kế bộ chuẩn và các công việc khác liên quan, vì vậy họ nhận thấy và đón nhận trách nhiệm mà nghề nghiệp qui định khi cùng tập thể bàn bạc, thảo luận. Những yêu cầu về các phẩm chất và năng lực cần có ở ngƣời giáo viên trong các giai đoạn nghề nghiệp khác nhau sẽ tạo ra cho giáo viên có một hình ảnh rõ ràng và cụ thể về các yêu cầu công việc và yêu cầu về nghề nghiệp của họ.
Vì vậy, nó sẽ giúp cộng đồng nhận rõ và sẽ chia với các công việc mang bản chất xã hội, trí tuệ và đa dạng của giáo viên. Các bƣớc mà 14 theo đó giáo viên cần thể hiện vào công tác giáo dục, giảng dạy và chứng tỏ năng lực của mình phù hợp với các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp còn giúp cho giáo viên nâng cao lòng tự trọng, tính trách nhiệm và khuyến khích họ tự bồi dƣỡng phát triển nghề nghiệp. Ở Việt Nam, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên đã đƣợc Bác Hồ, Đảng và Nhà nƣớc ta hết sức quan tâm. Đảng và Nhà nƣớc ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó có việc nghiên cứu về đội ngũ giáo viên.
Theo đó, nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã đƣợc triển khai. Tại Hội thảo khoa học Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên do Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức [20], nhiều báo cáo tham luận của các tác giả nhƣ Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải.