CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 1. Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên 1. Một số vấn đề lý luận về đội ngũ giáo viên 1. Khái niệm Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định.” Theo Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giáo viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
(Nguyễn Hữu Dũng, 2004) Như vậy, đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ là tạo ra sản phẩm giáo dục “Nhân cách – sức lao động”. Họ là một tập hợp có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất, bị ràng buộc bởi trách nhiệm, quyền hạn và được hưởng các quyền lợi về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của Luật pháp, Luật giáo dục và Điều lệ nhà trường. Họ cùng làm theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, nội quy, quy định của đơn vị, của ngành. Đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo của mỗi nhà trường.
Nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên trong nhà trường Nhiệm vụ của giáo viên trong nhà trường được nêu rõ trong Luật giáo dục 2019 - Điều 69 như sau: 1. Giảng dạy, giáo dục theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, điều lệ nhà trường, quy tắc ứng xử của nhà giáo. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học.
Học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học. Quản lý đội ngũ giáo viên Quản lý đội ngũ giáo viên là một trong những nội dung chủ yếu nhất của quá trình quản lý phát triển nguồn nhân lực trong ngành giáo dục và đào tạo nói chung và đối với nhà trường nói riêng. Trong giáo dục và đào tạo, xét trên diện rộng thì quản lý nguồn nhân lực là quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên chức trong nhà trường. Nếu xét trong phạm vi hẹp hơn thì quản lý đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.
Việc xây dựng, phát triển, đào tạo và bồi dưỡng về phẩm chất, trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu đặt ra là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình quản lý nguồn nhân lực trong ngành giáo dục và đào tạo. Quản lý đội ngũ giáo viên bao gồm việc phát triển đội ngũ giáo viên, sử dụng đội ngũ giáo viên và xây dựng môi trường cho đội ngũ giáo viên hoạt động và phát triển. Do đó, để tìm hiểu về quản lý đội ngũ giáo viên thì cần xem xét một số khái niệm về quản lý, quản lý nguồn nhân lực để từ đó đưa ra khái niệm khái quát nhất về quản lý đội ngũ giáo viên. Một số khái niệm a, Khái niệm quản lý Nói đến hoạt động quản lý, ta thường nhắc đến quan điểm của Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những cơ quan 7 độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc phải có nhạc trưởng.” (Nguyễn Trọng Chuẩn, 1995) Quan điểm của Mác cho thấy quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt được mục tiêu nào đó. Khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Quản lý được hiểu: Quản là chăm sóc, giữ gìn; quản lý là sửa sang, sắp xếp làm cho ổn định và phát triển; quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức; quản lý là lái, là điều khiển, điều chỉnh – theo góc độ điều khiển; quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức – theo cách tiếp cận hệ thống. Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo yêu cầu nhất định.” (Vũ Huy Chương, 2002) Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có những quan điểm khác nhau về quản lý: Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, khái niệm về quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.” (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2004) Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.” Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” Tác giả Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa: “Quản lý là sự tác động của tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường.” 8 Những định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý bao gồm các yếu tố sau: Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động của quản lý và ít nhất một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý.
Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. Chủ thể phải thực hành việc tác động. Chủ thể có thể là một người hoặc nhiều người có đối tượng cũng có thể là một người hay nhiều người (trong một tổ chức xã hội).
Bất luận một tổ chức có mục đích, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Một cách khái quát nhất, có thể xem quản lý là một quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Quá trình này được vận hành trong một môi trường xác định. b, Khái niệm quản lý giáo dục Cũng như quản lý nói chung, quản lý giáo dục cũng có quan niệm khác nhau: Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”.
Theo các tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước (các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục) chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. Theo Phạm Minh Hạc thì cho rằng: “Quản lý giáo dục là tổ chức các 9 hoạt động dạy học có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và đưa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao”. Ở cấp độ quản lý hệ thống giáo dục có thể hiểu: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả số lượng cũng như chất lượng”.
(Nguyễn Hữu Dũng, 2004) Hay “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, giám sát một cách hiệu quả các nguồn lực giáo dục và các hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”. (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2004) Như vậy bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đề ra, trong đó: Chủ thể quản lý: Đội ngũ cán bộ quản lý của các cấp. Khách thể quản lý: Các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy, quan hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Các thành tố đó là: Mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục; lực lượng giáo dục (người dạy); đối tượng giáo dục (người học), phương tiện giáo dục (điều kiện). 10 c, Khái niệm quản lý nhà trường Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục, nhà trường chính là nơi tiến hành giáo dục, đào tạo có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định.