phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Mục lục, Danh mục các công trình nghiên cứu, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, một số tiêu chí đánh giá chất lƣợng công tác đào tạo và bồi dƣỡng nguồn nhân lực cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan Văn phòng ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chƣơng 2: Khảo sát, đánh giá chất lƣợng công tác đào tạo và bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Văn phòng UBND tỉnh Nghệ An. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo và bồi dƣỡng nguồn nhân lực cán bộ, công chức, viên chức ở Văn phòng UBND tỉnh Nghệ An. 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG ỦY BAN CẤP TỈNH 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức Theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008.
Quan niệm về cán bộ Thuật ngữ “cán bộ” đƣợc sử dụng tại các nƣớc xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nƣớc và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội. Thuật ngữ khi đó thƣờng dùng là “cán bộ, công nhân viên chức”, bao quát tất cả những ngƣời làm công hƣởng lƣơng từ nhà nƣớc, kể cả những ngƣời đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ nhƣ lái xe, bảo vệ hay lao công tạp vụ. Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài trong đời sống chính trị - pháp lý ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức” không có sự phân biệt rạch ròi từng khái niệm cũng nhƣ quy chế pháp lý đối với từng nhóm. Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) đề cập đến ba đối tƣợng cán bộ, công chức, viên chức nhƣng không phân định rõ ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức mà quy định chung các đối tƣợng “cán bộ, công chức” là công dân Việt Nam, trong biên chế.
Có thể nói, thuật ngữ cán bộ đƣợc sử dụng nhƣ một ƣớc lệ, chƣa thể hiện tính chất hành chính, chƣa rõ nội hàm của khái niệm. Đây là một hạn chế của Pháp lệnh công chức. Cùng với xu hƣớng toàn cầu hoá về kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cƣờng mở rộng giao lƣu hợp tác nhiều mặt với các nƣớc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời, công cuộc cải cách hành chính hiện nay đặt ra nhu cầu chuyên biệt hoá trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan. Luật 7 z Cán bộ, công chức đƣợc Quốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 4 nhƣ sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc” Nhƣ vậy, đến Luật Cán bộ, công chức khái niệm cán bộ đã đƣợc quy định cụ thể, rõ ràng, xác định rõ nội hàm, đó là những ngƣời giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nƣớc thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, trừ trung ƣơng đến cấp huyện, quận và tƣơng đƣơng.
Quan niệm về công chức Công chức là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc và hƣởng lƣơng ngân sách nhà nƣớc.Tuy nhiên, do tính đặc thù của mỗi quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nƣớc không hoàn toàn thống nhất. - Quan điểm thứ nhất cho rằng, công chức bao gồm những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc nói chung, tƣơng ứng với quan niệm công vụ là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nƣớc (bao gồm hoạt động của công chức trong cơ quan quyền lực, xét xử, kiểm sát và cơ bản nhất là trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc). - Quan điểm thứ hai cho rằng, công chức bao gồm những ngƣời hoạt động trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nƣớc và bộ máy phục vụ của các cơ quan nhà nƣớc khác, giữ một công vụ thƣờng xuyên, ổn định. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc.
Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về công chức là Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký này 20/5/1950, tại Điều 1 quy định “công chức là những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan chính phủ, 8 z ở trong hay ngoài nƣớc, trừ trƣờng hợp do Chính phủ quy định”. Sau đó, do nhu cầu bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nƣớc ngày càng tăng, thực tiễn khi đó không đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức theo Quy chế nên suốt một thời gian dài sau đó, chế độ công chức đƣợc thay bằng chế độ “cán bộ, công nhân viên chức” bao gồm tất cả những ngƣời làm việc trong cơ quan nhà nƣớc, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế nhà nƣớc. Tất cả đều thuộc biên chế nhà nƣớc, đƣợc gọi là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nƣớc” chung chung, không phân biết ai là cán bộ, công nhân, viên chức theo quan niệm có tính truyền thống đã hình thành trƣớc đó. Do vậy, phát luật không tiếp tục đi theo hƣớng điều chỉnh có tính chuyên biệt đối với từng đối tƣợng lao động phục vụ trong các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nƣớc.
Theo quy định tại Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 “về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nƣớc” nhằm cụ thể hoá Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1993 và sửa đổi, bổ sung năm 2003, công chức nói tại Nghị định này và các văn bản hƣớng dẫn thi hành đã đề cập một cách rõ ràng hơn khai niệm cán bộ, công chức nhƣng vẫn chƣa có sự phân biệt giữa công chức hành chính với công chức sự nghiệp. Trƣớc yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nƣớc và đòi hỏi chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc, Luật Cán bộ, công chức của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định rõ tại khoản 2 Điều 4: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, 9 z Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Công chức đƣợc phân loại dựa trên các tiêu chí sau: * Theo trình độ đào tạo: Công chức đƣợc chia thành ba loại: - Công chức loại A: là ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học - Công chức loại B: là ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp - Công chức loại C: là ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dƣới giáo dục nghề nghiệp Cách phân loại này có ý nghĩa nhất định về lý luận và thực tiễn trong việc tiêu chuẩn hoá trình độ chuyên môn của công chức, khuyến khích họ phấn đấu học tập, nâng cao trình độ, thăng tiến trong chức nghiệp. * Theo ngạch công chức: gồm bốn loại: - Công chức loại A: gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tƣơng đƣơng; - Công chức loại B: gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tƣơng đƣơng; - Công chức loại C: gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tƣơng đƣơng; - Công chức loại D: gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tƣơng đƣơng và ngạch nhân viên; * Theo vị trí công tác: Công chức đƣợc phân ra làm hai loại: - Công chức lãnh đạo, chỉ huy; - Công chức chuyên môn, nghiệp vụ. Việc phân loại công chức nhƣ trên là việc làm có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc cơ cấu, quy hoạch, quản lý công chức trong 10 z hoạt động công vụ.
Trên cơ sở cách phân loại này để có những tiêu chí khác nhau trong việc đánh giá, sử dụng, đề bạt, xử lý công chức vi phạm một cách thích hợp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các khái niệm: Đào tạo; Bồi dưỡng “Đào tạo” và “bồi dƣỡng” là các thuật ngữ đƣợc sử dụng rất phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng nhƣ các tài liệu nghiên cứu ở nƣớc ta, tuy nhiên cách tiếp cận này cũng theo nhiều chiều khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005: “Đào tạo: làm cho trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dƣỡng: làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm”.