Chương 1. Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của công tác bồi dưỡng công chức tại TCHC thuộc Bộ. Đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng công chức tại các TCHC thuộc Bộ KH&CN. Giải pháp và lộ trình, các nguồn lực tổ chức thực hiện.
10 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA CAN CU PHAP LY CUA CONG TAC BOI DUONG CONG CHỨC TẠI TÔ CHỨC HÀNH CHÍNH THUOC BO Với mục tiêu dé xuất một hệ thống giải pháp tổng thẻ, toàn diện nhằm góp phân hoàn thiện, nâng cao hiệu qua, chất lượng bồi dưỡng công chức trong các TCHC thuộc Bộ KH&CN trong giai đoạn 2024 - 2030, Đề án xác định chủ thể của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng công chức là cơ quan quản lý hoạt động bồi dưỡng công chức, trong trường hợp cụ thê của Đề án chính là Bộ KH&CN. Khái quát về chủ thê của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng công chức là cơ quan quản lý hoạt động bồi dưỡng công chức trong các TCHC thuộc Bộ KH&CN sẽ được mô tả và phân tích tại Chương II của Đề án. Do đó, về mặt lý luận, cần làm rõ các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài của Đề án là “bồi dưỡng” và “công chức”. Những vẫn đề chung về bồi dưỡng 1.
Khái niệm bôi dưỡng Ngày nay, thuật ngữ “bổi đưỡng” được sử dụng khá rộng rãi trong hệ thông công vụ nói riêng và ngoài xã hội nói chung. - Theo Từ điển Tiếng Việt, bồi dưỡng là “làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”.102] - Theo từ điển Hành chính, “bôi đưỡng là làm tăng trình độ, năng lực hoặc phẩm chất; thường kết hợp với các từ cập nhật: Bội dưỡng cập nhật - bôi dưỡng kiến thức, kỹ năng; giáo duc đạo đức, phẩm chất kịp thời đáp ứng sự thay đổi hay yêu cầu mới; nâng cao - bôi dưỡng nâng cao: bôi dưỡng đề đạt được trình độ năng lực và phẩm chất cao hơn”. [53, tr41] - Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, thuật ngữ “bồi đưỡng ” cũng từng được nhắc đến một cách cụ thé tai khoản 2 Điều 5. Giải thích từ ngữ, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT, BD công chức (nay 11 đã hết hiệu lực thi hành) như sau “Bôi đưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ: năng làm việc”.
Từ những khái niệm trên, có thể rút ra “bôi đưỡng ” là quá trình bồ sung thêm kiến thức, kỹ năng cho một đối tượng học tập cụ thể trên cơ sở những kiến thức đã được đào tạo trước đó. Trước đây, hai khái niệm “đào tao” va “boi đưỡng ” hay được sử dụng chung, đi liền với nhau và đôi khi chưa có sự phân định rõ ràng trong cách hiểu. Tuy nhiên, việc làm rõ sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này là cần thiết đề thống nhất trong cách hiểu va áp dụng. Theo từ điên tiếng Việt, đào tao là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định ” [54, tr.
Theo khái niệm này, đảo tạo được hiểu là quá trình cung cấp kiến thức, năng lực cho một đối tượng học tập theo những tiêu chuẩn cụ thể, đã được công nhận. Tại khoản 1, Điều 5. Giải thích từ ngữ, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT, BD công chức cũng đưa cách hiểu đối với “đảo tạo” như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những trỉ thức, kỹ năng theo quy định của từng cắp học, bậc học. Như vậy, có thê hiểu đào tạo chính là việc trang bị những kiến thức mới, kiến thức mà đối tượng học tập chưa biết, chưa được tiếp cận trước đó dựa trên một quy trình học tập khép kín với những chuẩn mực, hệ phương pháp dạy va hoc cu thé, trong một khoảng thời gian nhất định.
Từ những phân tích trên, có thé thay hai khái niệm “đào tao”, “bdi duéng” mặc đủ có những nét tương đồng nhất định trong việc đều là quá trình cung cấp kiến thức, kỹ năng cho người học. Tuy nhiên, đây là hai khái niệm có những nội hàm nghĩa cụ thể với những nét khác biệt như sau: - Về ý nghĩa: Đào tạo là quá trình cung cấp những kiến thức cho người học một cách hệ thông nhằm trang bị và cung cấp kiến thức, năng lực theo tiêu chuẩn nhất 12 định mà trước đây người học chưa có. Trong khi đó, bồi dưỡng là việc trang bị, bô trợ thêm kiến thức, kỹ năng cho người học trên nền tảng những kiến thức đã có. - Về thời gian: Đảo tạo được thực hiện trong một khoảng thời gian dài, liên tục tính bằng năm.
Bồi dưỡng thường diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn như 2-3 ngày, hay vài tuần. - Về kết quả: Sau khi kết thúc quá trình đào tạo, người học sẽ được nhận bằng dao tao do co sé dao tạo cấp, ví dụ: bằng cử nhân, bằng thạc sỹ, bằng tiến sỹ. Đối với bồi dưỡng, sau khi kết thúc khóa học, người học có thể được cấp chứng chỉ (đối với những khóa học ngắn ngày có thể không cấp chứng chỉ). Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trước đây, nội dung “đào tạo” và “bồi dưỡng” thường đi liền với nhau và chưa có sự khu trú riêng biệt, rõ nét trong áp dụng.
Ngay cả trong Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT, BD công chức nêu trên, tuy đã định nghĩa rõ khái niệm ĐT, BD nhưng trong kết cấu nội dung của Nghị định này, khái niệm “đào tạo”, “bồi dưỡng” luôn song hành và không tách rời trong các quy định về nội dung, chương trình, chứng chỉ,. cũng như không có sự phân tách rõ ràng trong áp dụng. Hiện nay, việc phân tách hai khái niệm này đã được thể hiện khá rõ trong Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về ĐT, BD CB, CC, VC (thay thế Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT, BD công chức), và sau này là Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 về sửa đổi, bổ sung một só điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ. Theo đó, hai khái niệm đảo tạo và bồi dưỡng đã được phân định riêng biệt cả về mặt hình thức và nội dung với những quy định cụ thể đối với mỗi nhóm nội dung “đào tạo ”, “bồi dưỡng ” tại chương II, chương III của Nghị định.
Từ những phân tích, so sánh trên, có thê hiểu “bổi đưỡng” là quá trình trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của công chức dựa trên các tiêu chuẩn, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của từng công chức, trong đó tập trung vào việc vận dụng những kiến thức lý luận 13 vào thực tiễn giải quyết van dé quan lý cụ thé. Sau mỗi khóa bồi dưỡng, học viên sẽ được nhận chứng chỉ ghi nhận kết quả, ví dụ như: chứng chỉ bồi dưỡng lý luận chính trị; chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN. Hình thức, nội dung bôi dưỡng công chức 1. Hình thức bồi dưỡng công chức Hình thức tổ chức bôi dưỡng là cách thức sắp xếp và tiễn hành thực hiện trong quá trình bồi dưỡng.
Nội dung, chương trình, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng được thực hiện trong hình thức tổ chức bồi dưỡng. Căn cử theo chương trình, tài liệu; chức vụ, chức danh; ngạch công chức; VTVL trong hệ thống công vụ, quy định hiện hành về bồi dưỡng công chức (Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ vé DT, BD CB, CC, VC duoc stra đổi bổ sung tại Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP), các hình thức bồi dưỡng công chức gồm: - Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức: là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng thực thi công vụ theo chương trình quy định cho ngạch công chức đảm nhận hay dự kiến đảm nhận. - Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý: là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo từng nhóm hay từng chức vụ lãnh đạo, quản lý. - Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ, chức danh CB, CC cấp xã: là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc dành riêng cho đối tượng công chức cấp xã ở địa phương.
- Bồi dưỡng theo yêu cầu VTVL: là hoạt động trang bị, bé sung, cap nhat những kiến thức thiếu hụt, cần thiết và các kiến thức, kỹ năng, tư duy mới nhằm bù lại khoảng trồng thiếu hụt về năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tương lai, giúp công chức làm tốt công việc được giao. 14 Trong thực tiễn hoạt động bồi dưỡng công chức, bồi dưỡng công chức còn được thực hiện ở những hình thức như: bồi dưỡng trực tiếp và bồi dưỡng trực tuyến; bồi dưỡng tập trung và bồi dưỡng không tập trung; bồi dưỡng tại chức và bồi dưỡng chính quy. Nội dung bồi dưỡng công chức Hàng năm, công chức trong nền hành chính đều được cử tham gia các khóa bồi dưỡng do cơ quan, đơn vị tổ chức hoặc cử đi bồi dưỡng tại các cơ sở ĐT, BD khác. Theo quy định hiện hành về bồi dưỡng công chức, nội dung bồi dưỡng công chức gồm: - Lý luận chính trị: nội dung bồi dưỡng lý luận chính trị nhằm truyền thụ, tiếp thu hệ thống tri thức lý luận chính trị; củng cố thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lénin, tu tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao tầm nhìn, tư duy, phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý và vận dụng thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Bồi dưỡng lý luận chính trị hiện gồm ba cấp: sơ cấp, trung cấp và cao cấp. - Kiến thức quốc phòng và an ninh: Nội dung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh nhằm giáo dục cho công chức về kiến thức quốc phòng và an ninh đề phát huy tỉnh thần yêu nước, truyền thông dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.