Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống quản lý nhà nước tại Việt Nam, giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Thể chế hóa các chủ trương của Đảng tại các kỳ Đại hội toàn quốc lần thứ XI, XIII và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật được xem là công cụ quản lý hữu hiệu nhất. Từ năm 1945 đến nay, Nhà nước đã ban hành gần 1.000 văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) điều chỉnh lĩnh vực giáo dục; Luật Giáo dục cũng đã qua 25 năm áp dụng với hai lần sửa đổi, bổ sung lớn.
Tuy nhiên, các luật do Quốc hội ban hành đa phần chỉ dừng lại ở quy định mang tính khuôn khổ, nguyên tắc. Do đó, việc xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy định chi tiết (VBQĐCT) là điều kiện bắt buộc để đưa các chính sách giáo dục vào đời sống. Mặc dù công tác lập quy đã có nhiều chuyển biến, thực tiễn ban hành VBQĐCT trong lĩnh vực này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: tình trạng nợ đọng, chậm ban hành kéo dài; các quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo; kỹ thuật lập quy và sự đồng bộ giữa các cơ quan ban hành chưa cao. Trước yêu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn, tác giả Phạm Thùy Linh thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hành chính tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) dưới sự hướng dẫn của ThS. Ngô Linh Ngọc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xây dựng, ban hành VBQĐCT trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành công tác ban hành VBQĐCT trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giai đoạn hiện nay.
- Xác định nguyên nhân của các hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ban hành VBQĐCT trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận chung (khái niệm, đặc điểm, vai trò, thẩm quyền, quy trình); các quy định pháp luật hiện hành về ban hành VBQĐCT; thực tiễn áp dụng và thi hành các văn bản này trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
- Phạm vi không gian và thời gian: Tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành kể từ thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật số 80/2015/QH13) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 cho đến năm 2023. Về cấp độ thẩm quyền, đề tài tập trung trọng tâm vào hai nhóm văn bản chiếm số lượng lớn nhất là Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (đặc biệt là luận điểm của V.I. Lênin trong tác phẩm Bàn về chế độ hợp tác), tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối đổi mới giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết Đại hội Đảng XI, XIII; Nghị quyết số 27-NQ/TW; Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư).
Khung pháp lý trực tiếp phục vụ phân tích bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 4, Điều 19, Điều 39);
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 và 2008 (sử dụng đối chiếu lịch sử);
- Luật Giáo dục năm 2019 và Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018);
- Các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết kỹ thuật lập pháp và thẩm quyền: Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư;
- Các văn bản quy định thẩm quyền, chính sách giáo dục: Nghị định số 86/2022/NĐ-CP, Nghị định số 84/2020/NĐ-CP, Nghị định số 99/2019/NĐ-CP, Nghị định số 105/2020/NĐ-CP, Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC...
Phương pháp nghiên cứu thực tế được vận dụng linh hoạt qua các chương:
- Phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp: Triển khai xuyên suốt các chương nhằm làm rõ cấu trúc lý luận, nội dung các quy phạm và đánh giá việc thực thi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Phương pháp lịch sử: Áp dụng tại Chương 1 để khảo cứu sự thay đổi khái niệm, thẩm quyền từ thời kỳ phong kiến (Lệ, Lệnh) đến các đạo luật ban hành văn bản năm 1996, 2008 và 2015.
- Phương pháp so sánh, suy luận lô-gíc: So chiếu các điều khoản giao thẩm quyền và nội dung văn bản cụ thể giữa các thời kỳ và giữa các văn bản quy định của các bộ ngành.
- Phương pháp bình luận: Sử dụng tại Chương 3 để đánh giá các kiến nghị sửa đổi quy định pháp lý.
- Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê số liệu: Tác giả xây dựng biểu mẫu phiếu thu thập ý kiến (Phụ lục 03) và xử lý kết quả khảo sát (Phụ lục 04) nhằm lượng hóa nhận thức thực tiễn của các chủ thể thực thi.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật thực định; báo cáo tổng kết của Chính phủ (tiêu biểu là Báo cáo số 331/BC-CP ngày 19/8/2019 về tình hình thực hiện Nghị quyết số 67/2013/QH13); dữ liệu giám sát của Ủy ban Pháp luật Quốc hội; các kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về ban hành văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Chương này tập trung xác lập hệ thống nhận thức lý luận về văn bản quy định chi tiết trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tác giả chỉ ra thuật ngữ "văn bản quy định chi tiết" xuất hiện chính thức lần đầu tiên tại Luật Ban hành VBQPPL năm 1996, được mở rộng phạm vi tại Luật năm 2008, và được định hình chặt chẽ tại Điều 11 Luật năm 2015: VBQĐCT chỉ được ban hành khi có điều, khoản, điểm được giao cụ thể trong văn bản cấp trên, tuyệt đối không được quy định lặp lại văn bản được giao chi tiết. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: VBQĐCT trong lĩnh vực GD&ĐT là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm quy định cụ thể nội dung được giao trong văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Về đặc điểm, VBQĐCT trong GD&ĐT vừa mang đầy đủ tính chất của VBQPPL (chủ thể có thẩm quyền, thể thức, trình tự, tính cưỡng chế chung), vừa có đặc thù chuyên ngành: phản ánh 12 nội dung quản lý nhà nước theo Điều 104 Luật Giáo dục năm 2019 (tập trung vào 4 nhóm: hoạch định chính sách, tổ chức bộ máy, huy động nguồn lực và thanh tra kiểm tra); điều chỉnh cấu trúc phân quyền giữa Bộ GD&ĐT, các cơ quan ngang bộ, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và các cơ sở giáo dục; chi phối trực tiếp các chính sách tài chính, học phí, chuẩn chương trình và chế độ cho đội ngũ nhà giáo.
Tác giả xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng VBQĐCT gồm ba nhóm:
- Tiêu chí chính trị: Phù hợp với chủ trương của Đảng; phù hợp ý chí, nguyện vọng của tổ chức và nhân dân.
- Tiêu chí tính hợp hiến, hợp pháp: Phù hợp Hiến pháp năm 2013; ban hành đúng thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung; đúng căn cứ pháp lý; tuân thủ thủ tục xây dựng; tuân thủ thể thức và kỹ thuật văn bản theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP.
- Tiêu chí tính hợp lý: Phù hợp với điều kiện kinh tế, chuẩn mực đạo đức; bảo đảm kỹ thuật trình bày ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, lô-gíc (quy tắc: nội dung chung trước riêng sau, quyền nghĩa vụ trước thủ tục sau).
Về thẩm quyền hình thức, các chủ thể gồm: Chính phủ (Nghị định), Thủ tướng Chính phủ (Quyết định), Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (Thông tư), HĐND cấp tỉnh (Nghị quyết), UBND cấp tỉnh (Quyết định). Quy trình ban hành chuẩn mực gồm 5 bước: (1) Lập danh mục/đề nghị; (2) Soạn thảo (thành lập Ban soạn thảo, rà soát, khảo sát, lấy ý kiến tối thiểu 60 ngày); (3) Thẩm định (Bộ Tư pháp, Vụ Pháp chế, Sở Tư pháp) và thẩm tra (các Ban của HĐND); (4) Trình văn bản; (5) Xem xét, thông qua và công bố.
Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 phân tích toàn diện thực trạng công tác ban hành từ ngày 01/7/2016 đến năm 2023. Về kết quả đạt được, hầu hết các VBQĐCT đã ban hành đúng thẩm quyền hình thức, đúng căn cứ pháp lý còn hiệu lực và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (như Thông cáo số 20/2011/TB-LPQT với Ukraina, Hiệp định hợp tác với Estonia). Nội dung các văn bản đã bám sát các mục tiêu đổi mới chương trình, sách giáo khoa (Đề án theo Quyết định 404/QĐ-TTg, Thông tư 05/2022/TT-BGDĐT, Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT) và các chế độ chính sách cho người học, nhà giáo (Nghị định 105/2020/NĐ-CP, Nghị định 14/2020/NĐ-CP, Nghị định 110/2020/NĐ-CP).
Tuy nhiên, chương này nêu bật 4 nhóm tồn tại nghiêm trọng:
- Chậm ban hành và nợ đọng văn bản: Tình trạng một luật cần nhiều nghị định, một nghị định cần nhiều thông tư quy định chi tiết dẫn đến "treo luật". Có văn bản nợ từ năm 2013; việc xử lý văn bản có sai sót còn rất hạn chế khi chỉ có 01/31 văn bản của Bộ GD&ĐT được sửa đổi sau khi phát hiện vi phạm; thiếu hụt gần 200 chương trình khung đào tạo đại học so với mục tiêu (mới ban hành được 233 chương trình).
- Chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn: Vấn đề tự chủ đại học còn nhiều rào cản khi cả nước mới chỉ có 23 trường đại học công lập được thí điểm tự chủ theo quyết định của Thủ tướng, phần lớn còn lại vẫn hoạt động theo định chế cơ quan chủ quản; mạng lưới tổ chức pháp chế ngành giáo dục ở địa phương theo Nghị định 55/2011/NĐ-CP chưa được kiện toàn đầy đủ.
- Quy định chồng chéo, mâu thuẫn: Trong số hơn 200 văn bản điều chỉnh đội ngũ nhà giáo, có sự xung đột rõ rệt về chế độ: chính sách dạy lớp ghép tại điểm trường lẻ theo Nghị định 105/2020/NĐ-CP mâu thuẫn với trợ cấp lần đầu theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP; mâu thuẫn giữa Nghị định 76/2019/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 01/2006/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC dẫn đến việc giáo viên vùng khó khăn nghỉ thai sản không được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề, trong khi giáo viên vùng khác lại được hưởng theo Quyết định 244/QĐ-TTg; địa vị pháp lý và quyền tự chủ của Đại học Vùng so với Đại học Quốc gia chưa đồng bộ qua hệ thống văn bản.
- Bất cập trong quản lý hoạt động lập quy: Tình trạng ủy quyền không rõ ràng giữa quy định chi tiết và biện pháp thi hành; buông lỏng kiểm tra; đặc biệt là việc không thực hiện nghiêm Điều 29a Nghị định số 154/2020/NĐ-CP khi Bộ GD&ĐT hầu như không thông báo nội dung giao địa phương quy định chi tiết.
Nguyên nhân của thực trạng trên được tác giả phân định thành:
- Khách quan: Giáo dục là lĩnh vực có mức độ biến động xã hội lớn; khối lượng lập pháp đồ sộ tạo áp lực quá tải; quy trình lấy ý kiến 60 ngày kéo dài thời gian; cơ chế thẩm định, đánh giá tác động chính sách (RIA) chưa thực sự có chế tài ràng buộc mạnh.
- Chủ quan: Ý thức kỷ luật lập quy của cơ quan chủ trì soạn thảo chưa nghiêm; sự phối hợp giữa các đơn vị còn lỏng lẻo; năng lực cán bộ pháp chế và kinh phí đầu tư cho công tác xây dựng văn bản còn hạn chế.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi của hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay
Dựa trên các phân tích thực trạng, Chương 3 đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện quy định pháp luật: Rà soát, chuẩn hóa kỹ thuật ủy quyền lập quy trong các dự thảo luật; phân định rành mạch giữa nội dung giao quy định chi tiết (chỉ thực hiện khi luật giao cụ thể) và thẩm quyền ban hành biện pháp quản lý, phân cấp phân quyền cho địa phương; chấm dứt tình trạng giao quyền sai thẩm quyền.
- Hoàn thiện quy trình ban hành:
- Nâng cao tính thực chất của khâu thẩm định: Tăng cường trách nhiệm của Bộ Tư pháp và Vụ Pháp chế (Bộ GD&ĐT), tổ chức hội đồng tư vấn thẩm định độc lập đối với các chính sách có tác động lớn đến xã hội;
- Đổi mới báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) và báo cáo tổng kết thi hành Luật Giáo dục, tránh tình trạng coi báo cáo thẩm định là thủ tục hợp thức hóa hồ sơ;
- Mở rộng hình thức lấy ý kiến đóng góp, bảo đảm tiếp cận đúng các đối tượng chịu tác động trực tiếp như cơ sở giáo dục, nhà giáo, học sinh và phụ huynh.
- Nâng cao chất lượng thực thi:
- Kiện toàn bộ máy pháp chế chuyên trách ngành giáo dục từ trung ương đến địa phương; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan soạn thảo;
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra, tự kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy định chi tiết Luật Giáo dục để kịp thời bãi bỏ, sửa đổi các quy định mâu thuẫn;
- Bố trí nguồn kinh phí thỏa đáng, tương xứng với tính chất phức tạp của công tác lập quy ngành giáo dục.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và khái quát các số liệu thực tiễn phản ánh toàn diện hoạt động ban hành VBQĐCT trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (01/7/2016 – 30/6/2019) và các văn bản ngành giáo dục:
| Chỉ số / Nội dung |
Số liệu thống kê trong khóa luận |
| Tỷ lệ luật, nghị quyết giao quy định chi tiết (Khóa XIV) |
46/49 văn bản (chiếm 93,88%) |
| Vị trí nội dung giao quy định chi tiết |
98,8% trong luật; 1,2% trong nghị quyết |
| Số nội dung ủy quyền trung bình mỗi văn bản |
05 – 06 nội dung |
| Cơ quan tập trung thẩm quyền ban hành VBQĐCT |
Chính phủ và Bộ trưởng (chiếm 91%) |
| Văn bản quy phạm pháp luật về đội ngũ nhà giáo |
Hơn 200 văn bản |
| Chương trình khung đào tạo đại học đã ban hành |
233 chương trình (còn thiếu gần 200 chương trình) |
| Số trường đại học công lập thí điểm tự chủ |
23 trường đại học |
| Tỷ lệ văn bản của Bộ GD&ĐT được sửa đổi sau kiểm tra sai phạm |
01/31 văn bản |
Về mặt giải pháp, tác giả đóng góp các đề xuất cụ thể: kiến nghị áp dụng triệt để Điều 29a Nghị định số 154/2020/NĐ-CP về trách nhiệm thông báo nội dung giao địa phương quy định chi tiết; phân loại rõ định chế tự chủ đại học và định chế trực thuộc cơ quan chủ quản để xây dựng văn bản hướng dẫn riêng; giải quyết tận gốc xung đột chế độ phụ cấp nhà giáo giữa Nghị định số 76/2019/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC.
Về mặt học thuật, so với các công trình nghiên cứu ban hành VBQPPL nói chung, khóa luận có đóng góp riêng khi phân định ranh giới giữa VBQĐCT và văn bản dưới luật theo tinh thần Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, đồng thời hệ thống hóa 3 nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng (chính trị, hợp hiến/hợp pháp, hợp lý) đặc thù cho ngành giáo dục và đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ trung ương, chủ yếu là Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, chưa có điều kiện khảo sát toàn diện và sâu sắc hệ thống Nghị quyết của HĐND và Quyết định của UBND cấp tỉnh tại các địa phương trên toàn quốc. Phạm vi thời gian nghiên cứu giới hạn từ khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 có hiệu lực (01/7/2016) đến năm 2023.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ giới hạn của đề tài bao gồm việc khảo sát định lượng chuyên sâu thực tiễn ban hành văn bản quy định chi tiết tại chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh, huyện), đồng thời theo dõi, đánh giá hiệu quả tác động của các VBQĐCT Luật Giáo dục năm 2019 sau chu kỳ 5-10 năm triển khai thực tế.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Quản lý công và Quản lý giáo dục khi nghiên cứu về kỹ thuật lập quy và hoạt động ban hành văn bản dưới luật.
- Cán bộ làm công tác pháp chế tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố, cùng các chuyên viên tư pháp tham gia soạn thảo, thẩm định VBQPPL ngành giáo dục.
- Các phần đáng tham khảo nhất bao gồm: Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng VBQĐCT (Mục 1.3); Bảng tổng hợp các điểm mâu thuẫn, chồng chéo trong chính sách nhà giáo và tự chủ đại học (Mục 2.2 và Phụ lục 02); Quy trình 5 bước xây dựng VBQĐCT theo Luật Ban hành VBQPPL 2015 (Mục 1.5).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, phạm vi của VBQĐCT khác gì so với quy định tại Luật năm 2008?
Theo Luật năm 2008, phạm vi quy định chi tiết tương đối rộng theo hướng quy định chi tiết thi hành văn bản cấp trên. Đến Luật năm 2015 (Điều 11), phạm vi bị khoanh vùng chặt chẽ: chỉ được ban hành khi có điều, khoản, điểm được giao cụ thể; văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội dung được giao và tuyệt đối không được lặp lại nội dung của văn bản được giao chi tiết.
2. Tỷ lệ cơ quan được Quốc hội khóa XIV giao ban hành VBQĐCT phân bổ như thế nào?
Trong giai đoạn từ 01/7/2016 đến 30/6/2019 (6 kỳ họp đầu khóa XIV), Quốc hội thông qua 49 luật, nghị quyết thì có 46 văn bản có nội dung giao quy định chi tiết (93,88%). Trong đó, chủ thể được giao tập trung chủ yếu vào Chính phủ và Bộ trưởng, chiếm tới 91%; tỷ lệ giao cho Thủ tướng Chính phủ, HĐND và UBND cấp tỉnh chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
3. Văn bản nêu mâu thuẫn cụ thể nào về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề của giáo viên?
Có sự thiếu đồng bộ giữa Nghị định số 76/2019/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC. Do đó, giáo viên công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi nghỉ thai sản không được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề theo Nghị định 76, trong khi giáo viên tại các vùng còn lại vẫn được hưởng phụ cấp theo Quyết định số 244/QĐ-TTg.
4. Bất cập về thể chế đối với vấn đề tự chủ đại học được chỉ ra là gì?
Khóa luận chỉ ra rằng trên thực tế mới chỉ có 23 trường đại học công lập được Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm tự chủ; hầu hết các cơ sở giáo dục đại học công lập còn lại vẫn hoạt động theo định chế cơ quan chủ quản (cấp trên bổ nhiệm và giao quyền quản lý). Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa phân định rõ để xây dựng cơ chế điều chỉnh riêng biệt cho từng loại định chế này.
5. Điểm mới tại Điều 29a Nghị định số 154/2020/NĐ-CP được tác giả nhắc đến về trách nhiệm của Bộ GD&ĐT là gì?
Điều 29a bổ sung trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ phải chủ động thông báo cho chính quyền địa phương các nội dung được giao cho chính quyền địa phương quy định chi tiết. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra trên thực tế, sau nhiều tháng triển khai, Bộ GD&ĐT hầu như chưa thực hiện việc thông báo này, dẫn đến việc địa phương lúng túng và chậm ban hành văn bản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thùy Linh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có kết cấu chặt chẽ, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng pháp lý của hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2023. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ liệu lập pháp và chỉ ra các xung đột chính sách thực tế về chế độ nhà giáo cũng như tự chủ đại học, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp có giá trị ứng dụng thực tiễn cao từ góc độ luật hành chính. Công trình phản ánh trung thực thực trạng công tác lập quy ngành giáo dục, đóng góp tư liệu quan trọng phục vụ hoàn thiện thể chế giáo dục trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.