CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đào tạo Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và có hiệu quả” [6, tr.
Đào tạo là gì? 10 Luan van Đào tạo được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”. Đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể mà quá trình truyền đạt này phải là một qui trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học cụ thể, trong một khoảng thời gian nhất định. Yếu tố xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu vào của đối tượng được đào tạo không nhất thiết làm rõ, nhưng năng lực và kiến thức đầu ra (sau quá trình truyền đạt, dạy và học) phải được qui chuẩn và xác định rõ các tiêu chuẩn đã đạt được. Sự chuyển biến về chất lượng năng lực và kiến thức của đối tượng được đào tạo sau khi trải qua một qui trình dạy và học để có thể đảm nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học.
Khái niệm bồi dưỡng Theo tài liệu của UNESCO thì: bồi dưỡng có nghĩa là nâng cao trình độ nghề nghiệp; còn theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: bồi dưỡng được hiểu là làm cho tốt hơn, giỏi hơn, bao gồm bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ [31, tr. Trong Từ điển Giáo dục học [32, tr. 27], khái niệm bồi dưỡng được trình bày như sau: (1) Nghĩa rộng: Quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn. Ví như, bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng chí khí chiến đấu, bồi dưỡng các đức tính cần kiệm, liêm chính,… (2) Nghĩa hẹp: Trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.
“Ví 11 Luan van như, bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm,… Bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp truyền đạt thêm, cũng không nhất thiết phải thay đổi cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức của người học, mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho họ. Qua đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, đào tạo, bồi dưỡng nói chung và đào tạo, bồi dưỡng LLCT nói riêng, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; kỹ năng, kiến thức; năng lực hoặc phẩm chất nói chung trên cơ sở kế thừa và phát huy những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó. Trong hoạt động bồi dưỡng LLCT của đề tài luận văn được hiểu: “bồi dưỡng là nhằm nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để họ hiểu rõ từ đó vận dụng vào các hoạt động của đời sống thực tiễn đạt hiệu quả hơn” [9, tr. Bồi dưỡng với mục đích bổ sung cập nhật các kiến thức mới có tính bổ trợ cho việc thực thi công vụ, tiếp thu các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước về LLCT, tin học, ngoại ngữ, về công tác của các ngành, đoàn thể.
nhằm khắc phục những thiếu hụt về kiến thức lý luận, trình độ chuyên môn và năng lực quản lý. Vì vậy, thời gian bồi dưỡng ngắn hơn so với công tác đào tạo. Tuy nhiên, bên cạnh 02 khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những khái niệm độc lập, trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là đào tạo bồi dưỡng là một thuật ngữ chung không tách rời. 12 Luan van Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai khái niệm khác nhau – như đã giải thích trên đây, nhưng lại có cùng một mục đích chung làm cho người lao động có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác được tốt hơn.
Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo, hoặc bồi dưỡng rất khó phân chia thành đào tạo hoặc bồi dưỡng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau. Như vậy, việc phân định độc lập giữa đào tạo và bồi dưỡng hiện nay cũng chỉ mang tính chất tương đối, trong nhiều trường hợp không hoàn toàn xác định chính xác khi nào diễn ra quá trình đào tạo, khi nào thực hiện bồi dưỡng. Tóm lại, đào tạo bồi dưỡng chính là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào tạo, đồng thời vừa trang bị, cập nhật, rèn luyện để nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho một đối tượng học tập. Thông qua quá trình đào tạo bồi dưỡng, đối tượng được học tập có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp nhất định và đồng thời làm cho họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có để phát huy hết năng lực làm việc của họ.
Khái niệm bồi dưỡng lý luận chính trị Lý luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan. Mọi lý luận đề quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, được hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [9, tr. Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con người nhằm thu nhận những tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạt động tổng thể của xã hội.
Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về 13 Luan van một tổng thể các khách thể nào đó. Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt logic và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát triển của khách thể để nghiên cứu. Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của đảng. Đảng ra đời trên nền tảng tư tưởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những người giác ngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó.
Khi đảng ra đời, cương lĩnh hành động, đường lối chiến lược, sách lược do đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tư tưởng đó. Chính trị là một lĩnh vực rất rộng lớn, phức tạp nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội được tổ chức thành nhà nước chính vì vậy, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của mọi giai tầng trong xã hội nên có nhiều cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhau. Theo Từ điển Triết học giản yếu Việt Nam thì: Chính trị là lĩnh vực hoạt động gắn liền với mối liên hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước [33, tr. Còn theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam: Chính trị là những vấn đề thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và quan hệ quốc tế về mặt nhà nước giữa các nước với nhau [23, tr.
Những quan điểm trên đã nêu được bản chất của Chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước. Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực hiện dân chủ, mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước. Lênin cho rằng: “Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước; chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản”. Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.
Lênin lại cho rằng: Chính trị là biểu 14 Luan van hiện tập trung của kinh tế [17, tr. Chính vì vậy, mỗi hình thái Nhà nước thì đều có một thể chế chính trị khác nhau để nhằm điều hành các mối quan hệ của bộ máy công quyền, bảo vệ giai cấp cầm quyền của Nhà nước đó. Từ đó cho ta thấy, Chính trị là vấn đề rộng lớn, phức tạp và chi phối nhiều mối quan hệ, nhiều giai tầng, lĩnh vực nghiên cứu xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học. Như vậy có thể đúc kết rằng: mục đích của chính trị là giành được quyền lực chính trị cho giai cấp thống trị để điều hành xã hội.
Qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tiếp cận khái niệm Chính trị với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân. Đối với Việt Nam, để đảm bảo thực thi có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thì đội ngũ cán bộ, đảng viên cấp cơ sở đóng vai trò là hạt nhân để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ đó.