CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG - Từ năm 1926-1929, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ hơn dưới sự lãnh đạo và hoạt động của hội Việt nam cách mạng thanh niên. - Song song với các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là phong trào đấu tranh của nông dân. - Điều cần nói ở đây là phong trào công nhân và phong trào nông dân đã có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Nông dân đã quyên tiền ủng hộ công nhân hoặc che chở, đùm bọc công nhân khi phải về thôn quê tạm lánh địch khủng bố… * Sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt nam.
Cuối năm 1928-1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ và mang tính thống nhất trong cả nước đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng cách mạng. Việt nam cách mạng thanh niên đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử là chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ở nước ta và giờ đây không còn phù hợp để lãnh đạo phong trào. Xu thế thành lập một Đảng cộng sản đã chín muồi. - Phong trào Vô sản hóa (1928) của HVNCMTN diễn ra mạnh mẽ nhất ở Bắc Kỳ, làm cho phong trào cách mạng ở đây phát triển sôi nổi hơn, yêu cầu thành lập đảng Cộng sản vì thế cũng xuất hiện sớm hơn.
Cuối tháng 3/1929, tại 5D - Hàm Long- Hà Nội một số hội viên tiên tiến của Hội VNCMTN ở kỳ bộ Bắc Kỳ lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 người do đồng chí Trần Văn Cung làm bí thư chi bộ. - Tháng 5 năm 1929, tại Đại hội lần thứ nhất Hội VNCMTN ở Hương Cảng - Trung Quốc, đoàn Đại biểu kỳ bộ Bắc Kỳ đề nghị giải tán tổ chức Thanh Niên và thành lập Đảng Cộng sản. Nhưng đề nghị đó không được chấp nhận nên đoàn đại biểu Bắc Kỳ rút khỏi Đại Hội về nước. - Ngày 17/6/1929, tại 312 Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cộng sản ở miền Bắc họp Đại hội và quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ Đảng, xuất bản báo Búa Liềm, cử ra BCH TƯ lâm thời của Đảng.
Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng là sự kiện đột phá chính thức kết thúc vai trò của Hội VNCMTN. - Trước tình hình đó, một số hội viên tiên tiến của Việt Nam cách mạng thanh niên ở Trung Kỳ và Nam Kỳ cũng vạch ra kế hoạch thành lập tổ chức cộng sản. + An Nam cộng sản Đảng: Trước sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và nhu cầu của phong trào cách mạng, các đồng chí trong VNCMTN hoạt động ở Trung Quốc và Nam Kỳ đã thành lập An Nam cộng sản Đảng vào tháng 8/1929. + Đông Dương cộng sản liên đoàn: Sự ra đời của Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng đã tác động mạnh mẽ đến sự phân hoá của Tân Việt cách mạng Đảng.
Những đảng viên tiên tiến của tổ chức này đã tách ra lập các chi bộ cộng sản, xúc tiến chuẩn bị mở đại hội thành lập Đảng. Tháng 9/1929 họ ra tuyên đạt về việc thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn. Như vậy, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ở Việt nam đã ra đời 3 tổ chức Cộng sản. 21 CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 2.
HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 2. Hội nghị thành lập Đảng - Bối cảnh lịch sử của Hội nghị thành lập Đảng: + Yêu cầu bức thiết của thực tiễn phải hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản làm một vì sự tồn tại cùng lúc 3 tổ chức Cộng sản làm cho lực lượng cách mạng bị phân tán, đường lối không thống nhất. + Chỉ thị của QTCS. Ngày 27/10/1929 Quốc tế Cộng sản đã gửi cho những người cộng sản Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương, trong đó chỉ rõ: "Các tổ chức cộng sản phải chấm dứt sự chia rẽ công kích lẫn nhau đồng thời xúc tiến việc hợp nhất thành một chính đảng duy nhất ở Đông Dương".15 + Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản đã từ Xiêm về Trung Quốc( ngày 23/12/1929) chủ trì hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tại Cửu Long (Hương Cảng -Trung Quốc). Thành phần hội nghị hợp nhất gồm có 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản là Nguyễn Ái Quốc, 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu) và 2 đại biểu ngoài nước (Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu). - Nội dung Hội nghị: + Hội nghị thảo luận và nhất trí với năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc và quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng và lấy tên là Đảng Cộng sản Việt nam. Số đảng viên của Đảng khi mới thống nhất hai tổ chức cộng sản có đại biểu dự hội nghị là 310 người16.
+ Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ tóm tắt và chương trình tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Những văn kiện này hợp thành Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta - Cương lĩnh Nguyễn Ái Quốc. + Hội nghị quyết định ra báo, tạp chí của Đảng Cộng sản Việt nam. - Ngày 24/2/1930, Đông Dương Cộng sản liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt nam.
Đảng Cộng sản Việt nam đã hoàn tất việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam làm một. 15 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, sdd, 1998, t 1, tr 614 16 Đảng CSVN: Báo cáo gửi QTCS, văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 1998, t2, tr 21. 22 CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng * Nội dung Cương lĩnh: Tuy chỉ “vắn tắt” nhưng các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã xác định một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam: - Về phương hướng chiến lược của cách mạng Việt nam: Làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".
- Về nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng: trên 3 phương diện chính: +Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt nam hoàn toàn độc lập; dựng ra chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông. + Về kinh tế: Thủ tiêu hết quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc Pháp tư bản giao cho chính phủ công nông; tịch thu hết ruộng đất của đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo; miễn thuế cho dân nghèo; thi hành luật ngày làm 8 giờ… + Về văn hoá, xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ được bình quyền; phổ thông giáo dục theo hướng công nông hoá. Những nhiệm vụ trên đây thể hiện đầy đủ yếu tố dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội…Trong đó, chống đế quốc, giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. - Về lực lượng cách mạng: cương lĩnh xác định đối với từng giai cấp: + Công nhân: Đảng phải vận động và thu phục được đông đảo công nhân làm cho giai cấp công nhân lãnh đạo được dân chúng.
+ Nông dân: Đảng phải thu phục được đông đảo nông dân, dựa vững vào nông dân nghèo để lãnh đạo họ làm cách mạng ruộng đất. + Đảng phải lôi kéo được tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi về phía giai cấp vô sản, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt nam. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ… Trong khi liên lạc với các giai cấp phải thận trọng, không đi vào con đường thoả hiệp. Như vậy, lực lượng cách mạng theo quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là hết sức rộng rãi.
- Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản để lãnh đạo cách mạng Việt nam đấu tranh nhằm giải phóng toàn thể đồng bào bị áp bức, bóc lột. - Về quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Đảng phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là với quần chúng vô sản Pháp.
* Ý nghĩa của Cương lĩnh: - Đây là Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt nam. 23 CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG - Cương lĩnh đã xác định đúng 2 nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến của cách mạng Việt Nam trên cơ sở thấu hiểu 2 mâu thuẫn cơ bản của xã hội thuộc địa nửa phong kiến nên đã giải quyết và đáp ứng đúng những nhu cầu bức xúc của lịch sử lúc đó. - Cương lĩnh cũng xác định đúng trong mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ thì chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu và để thực hiện nhiệm vụ nặng nề đó thì lực lượng cách mạng phải hết sức rộng mở. Đây là sự sáng tạo lớn của Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ sự thấu hiểu yêu cầu và đặc điểm của một xã hội thuộc địa- phong kiến.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau này đã nhận xét: “Vào thời điểm ấy (tức những năm 20-30), hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng” và đã mở ra một hướng phát triển mới cho dân tộc Việt nam. - Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, Cương lĩnh chỉ ở dạng “vắn tắt” nên nhiều vấn đề chưa được giải thích cụ thể. Những vấn đề đó sẽ được bổ sung, cụ thể hóa trong công cuộc lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền của Đảng ở giai đoạn sau.