mở đầu một thời đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”3. Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân nhân dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc nhận định: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải [lấy] dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất.
Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”4 Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố tại Đại hội III Quốc tế Cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương 1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 12 (1959-1960), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 563. 2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 15 (1966-1969), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 387.
3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 11 (7/1957-12/1958), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 164. 4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 2 (1924-1929), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 304. 9 hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản. Nhiều Đảng Cộng sản đã ra đời: Đảng Cộng sản Đức, Hungary (1918); Đảng Cộng sản Mỹ (1919); Đảng Cộng sản Anh, Pháp (1920); Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Mông Cổ (1921); Đảng Cộng sản Nhật Bản (1922)… Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc không những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng Việt Nam. “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”1. Hoàn cảnh trong nước 1. Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp H.1: Quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam Chính sách cai trị của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam.
Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam. - Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. - Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công 1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 2 (1924-1929), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 312.
10 nghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh tế mới.) nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu. - Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu. Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trị thực dân ở Đông Dương: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm.
bằng thuốc phiện, bằng rượu. chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập”1. Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam. Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.2: Các giai cấp trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX - Giai cấp cũ: + Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ chiếm khoảng 7% nhưng nắm trong tay 50% diện tích ruộng đất.
Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Nhưng do hệ tư tưởng của giai cấp địa chũ đã cũ kĩ và lỗi thời, nên phong trào do giai cấp địa chủ không thể giành thắng lợi. + Giai cấp nông dân: giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, chiếm hơn 90% dân số, bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề.
Giai cấp nông dân luôn hăng hái tham gia các phong trào cách mạng, nhưng do thiếu hệ 1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 1 (1912-1924), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 33-34. 11 tư tưởng, giai cấp nông dân không thể trở thành lãnh đạo mà luôn là lực lượng không thể thiếu của các phong trào. - Giai cấp mới: + Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Đa số công nhân Việt Nam trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, chiếm tỉ lệ gần 1% dân số, do đó giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân.
Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân Việt Nam là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, có tinh thần đoàn kết, “và vừa lớn lên đã sớm tiếp thụ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin” 1, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, và trở thành lực lượng lãnh đạo của cách mạng Việt Nam sau khi có Đảng Cộng sản. + Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp… Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ. Ngay từ khi ra đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh, chèn ép, do đó, thế lực kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt. Vì vậy, giai cấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
+ Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những người làm nghề tự do… Tầng lớp tiểu tư sản có thành phần phức tạp nhất trong các giai cấp ở Việt Nam, bao gồm cả tiểu tư sản lớp cũ và tiểu tư sản lớp mới. Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản. Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.
Vì vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao và nhạy cảm chính trị. Được phong trào cách mạng rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở thành thị. Các mâu thuẫn cơ bản: - Mâu thuẫn dân tộc: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và Pháp; - Mâu thuẫn giai cấp: giữa nông dân và địa chủ. Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội.
Trong đó đặc biệt là sự ra đời hai giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người bị mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột. Từ hai mâu thuẫn dẫn đến Việt Nam có hai nhiệm vụ cách mạng là giải phóng dân 1 Lê Duẩn (2008), Tuyển tập, Tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 551. 12 tộc và giải phóng giai cấp, trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu cần tập trung giải quyết.
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến: được thực hiện dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến với hình thức đấu tranh là khởi nghĩa vũ trang. Phong trào Cần Vương (1885- 1896) Ngày 5/7/1885, thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết tấn công phái đoàn của Khâm xứ Pháp ở Trung kỳ. Bị thất bại ông đưa vua Hàm Nghi lên vùng núi Quảng Trị. Tại đây ngày 13/7/1885, Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương (phò vua cứu nước).
Phong trào Cần Vương phát triển mạnh tại nhiều địa phương ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Ngày 1/11/1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn tiếp tục đến khi khởi nghĩa Phan Đình Phựng thất bại năm 1896. Phong trào Cần vương là tập hợp của nhiều cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Bãi Sậy, khởi nghĩa Hùng Lĩnh, khởi nghĩa Hương Khê… Người lãnh đạo là văn thân, sĩ phu yêu nước. Lực lượng tham gia chủ yếu là nông dân.
Hình thức đấu tranh chính: khởi nghĩa vũ trang. Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế bắt đầu từ năm 1884.