Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Công đoàn Số 27 - Trường Đại học Công đoàn

Thông tin chi tiết tài liệu Đại hội cổ đông số 27. Cập nhật báo cáo hoạt động, phương hướng sản xuất kinh doanh và nghị quyết đại hội mới nhất.

Chuyên ngành

Lý luận chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài báo khoa học

2022

100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luật Dân chủ cơ sở số 27

Luật Dân chủ cơ sở số 27 (Dhcd số 27) là văn bản pháp lý quan trọng quy định quyền và nghĩa vụ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, xã hội tại cơ sở. Được ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương dân chủ xã hội chủ nghĩa, luật này tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn. Nội dung chính bao gồm các quy định về quyền tham gia của công dân trong quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, cơ chế giám sát hoạt động của chính quyền, và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ. Luật ra đời góp phần nâng cao vai trò của nhân dân trong xây dựng và quản lý xã hội, đồng thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng dân chủ để phá hoại ổn định chính trị.

1.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật Dân chủ cơ sở số 27 áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở (xã, phường, thị trấn), tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức khác hoạt động trên địa bàn. Phạm vi điều chỉnh bao gồm các lĩnh vực quản lý nhà nước, kinh tế - xã hội, an ninh trật tự, môi trường và các vấn đề khác có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân. Đối tượng áp dụng đặc biệt chú trọng đến cán bộ, đảng viên và người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình trước nhân dân. Luật cũng quy định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của từng chủ thể trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của Luật

Mục tiêu chính của Luật Dân chủ cơ sở số 27 là tăng cường sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp. Luật hướng tới xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nơi quyền lực thuộc về nhân dân. Ý nghĩa quan trọng của luật thể hiện ở việc khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân trong hệ thống chính trị, thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động quản lý, đồng thời góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Ngoài ra, luật còn tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các quyền dân chủ tại cơ sở, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

II. Những vấn đề nổi cộm trong triển khai Dhcd số 27

Việc triển khai Luật Dân chủ cơ sở số 27 tại nhiều địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn, điển hình là tình trạng nhận thức hạn chế về quyền và nghĩa vụ dân chủ của người dân. Nhiều công dân chưa thực sự hiểu rõ hoặc thờ ơ với các quy định pháp luật, dẫn đến việc tham gia giám sát, đóng góp ý kiến còn mang tính hình thức. Bên cạnh đó, một số cán bộ cơ sở còn lúng túng trong việc tổ chức các buổi tiếp xúc, đối thoại với nhân dân do thiếu kinh nghiệm và nguồn lực. Thách thức khác đến từ sự can thiệp của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ để kích động biểu tình, gây mất ổn định an ninh trật tự. Những bất cập này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt hơn từ phía chính quyền và sự nỗ lực nâng cao nhận thức cộng đồng.

2.1. Thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật

Một trong những rào cản lớn nhất trong triển khai Dhcd số 27 là sự thiếu đồng bộ giữa luật này với các văn bản pháp luật liên quan như Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tiếp công dân. Nhiều quy định chưa được cụ thể hóa trong các nghị định, thông tư hướng dẫn, dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Ví dụ, quy định về quyền tiếp xúc, đối thoại với nhân dân chưa có hướng dẫn chi tiết về hình thức, thời gian tổ chức, gây khó khăn cho cán bộ cơ sở. Sự chồng chéo này khiến người dân và cán bộ lúng túng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.

2.2. Hạn chế trong công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về dân chủ cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, chủ yếu thông qua các phương tiện truyền thống như loa phát thanh, tờ rơi, thiếu sự tương tác và tiếp cận đa dạng đến từng nhóm đối tượng. Nhiều người dân, đặc biệt là lao động di cư, người cao tuổi hoặc dân tộc thiểu số, vẫn chưa nắm bắt được quyền lợi và cách thức tham gia. Ngoài ra, sự thiếu gương mẫu từ phía một số cán bộ trong việc thực hiện dân chủ cũng làm giảm niềm tin của nhân dân. Những bất cập này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong phương thức tuyên truyền, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành Dhcd số 27

Để nâng cao hiệu quả thi hành Luật Dân chủ cơ sở số 27, cần tập trung vào ba giải pháp chính: thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan bằng cách ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết, đảm bảo tính khả thi và thống nhất trong áp dụng. Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua các kênh truyền thông đa dạng, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, chú trọng đến đối tượng yếu thế. Thứ ba, tăng cường đào tạo, tập huấn cho cán bộ cơ sở về kỹ năng tổ chức đối thoại, tiếp xúc nhân dân, xử lý tình huống phức tạp. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế khuyến khích, động viên người dân tham gia tích cực, như công nhận thành tích, biểu dương gương điển hình.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý

Việc hoàn thiện khung pháp lý cho Dhcd số 27 đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và Ủy ban Dân tộc. Cần xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết về quyền tiếp xúc, đối thoại, hình thức giám sát của nhân dân, cũng như trách nhiệm giải trình của cán bộ. Ví dụ, nghị định hướng dẫn có thể quy định rõ lịch tổ chức định kỳ, thành phần tham dự, hình thức ghi biên bản, và chế tài xử lý vi phạm. Sự minh bạch trong quy trình sẽ giúp người dân dễ dàng tiếp cận và thực thi quyền lợi của mình.

3.2. Đa dạng hóa phương thức tuyên truyền

Để tuyên truyền pháp luật dân chủ cơ sở hiệu quả, cần tận dụng tối đa các nền tảng số như mạng xã hội, ứng dụng di động, website của chính quyền địa phương. Tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo trực tuyến, livestream giải đáp thắc mắc của người dân. Đặc biệt, chú trọng đến các đối tượng đặc thù như thanh niên, phụ nữ, người khuyết tật bằng cách xây dựng nội dung phù hợp, dễ hiểu. Sự kết hợp giữa tuyên truyền truyền thống và hiện đại sẽ giúp luật đến gần hơn với mọi tầng lớp nhân dân, từ đó nâng cao ý thức pháp luật và tinh thần trách nhiệm.

IV. Kết luận và khuyến nghị triển khai Dhcd số 27

Luật Dân chủ cơ sở số 27 là bước tiến quan trọng trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở. Tuy nhiên, để luật thực sự đi vào cuộc sống, đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía: hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng, và tăng cường năng lực cán bộ cơ sở. Chính quyền các cấp cần coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực thi luật. Người dân cần chủ động tìm hiểu quyền lợi, tham gia tích cực vào các hoạt động dân chủ, giám sát hoạt động của chính quyền. Có như vậy, luật mới phát huy được hiệu quả, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

4.1. Tầm quan trọng của việc thực thi luật

Việc thực thi nghiêm túc Dhcd số 27 không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là nghĩa vụ chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân. Đây là cơ hội để nhân dân thể hiện vai trò chủ thể trong quản lý xã hội, góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Đối với cán bộ cơ sở, việc thực thi luật đòi hỏi sự minh bạch, trách nhiệm giải trình trước nhân dân. Đối với người dân, đây là quyền lợi nhưng cũng là nghĩa vụ tham gia xây dựng cộng đồng. Sự thành công trong triển khai luật sẽ củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của Dhcd số 27 để phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát việc thực thi luật, như xây dựng cổng thông tin điện tử, ứng dụng di động cho phép người dân dễ dàng đóng góp ý kiến. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về dân chủ cơ sở, đặc biệt là kỹ năng tổ chức đối thoại, xử lý khiếu nại, tố cáo. Có như vậy, luật mới thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để xây dựng xã hội dân chủ, văn minh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề về lý luận nhà nước và xã hội xã hội chủ nghĩa. Vào Sau cách mạng tháng Mười, nước Nga Xô-viết tháng 3 năm 1917, Nga hoàng bị lật đổ bởi nhân dân, được thành lập trong tình trạng lạc hậu về kinh tế, đối mặt với sự cai trị phản động của chính phủ lâm năng suất lao động, trình độ học vấn và năng lực thời tư sản và những người Menshevik, sự thỏa hiệp chính trị của người dân thấp kém. Điều này khác xa và đầu hàng của các nhà cách mạng xã hội, đảng những giả định và miêu tả của C. Mác về Chủ nghĩa Bolshevik do Lênin lãnh đạo đã chủ trương con xã hội.

Trong điều kiện lịch sử xã hội như vậy, quản lý đường vũ trang giành lấy quyền lực nhà nước và lật nhà nước xã hội chủ nghĩa phải đối mặt với nhiệm vụ đổ chế độ tư sản. Sau thành công của cách mạng vô lịch sử quan trọng là củng cố nền chuyên chính vô sản, mô hình nhà nước nào sẽ được thiết lập ở Nga? sản, một nhiệm vụ lịch sử lớn lao cho thấy sự vượt làm thể nào để quản lý được? Và trả lời cho vấn đề trội của chế độ xã hội chủ nghĩa. Lênin cho rằng, với này, trước cách mạng tháng Mười, tức trong khoảng tư cách là một tổ chức của giai cấp, đồng thời cũng từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1917, Lênin viết tác là tổ chức quần chúng lớn nhất của giai cấp vô sản, phẩm “Nhà nước và cách mạng”. Trong tác phẩm, đứng giữa đảng và chính quyền nhà nước, công Lênin đã tiến hành phân tích và tranh luận về việc đoàn luôn đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thiết lập hệ thống chính trị và quản lý nhà nước sau và quản lý hiệu quả nhà nước xã hội chủ nghĩa.

cách mạng ở Nga. Thông qua tác phẩm này, Lênin 2. Công đoàn là tổ chức quan trọng trong thực không những đã khôi phục được quan điểm của tiễn quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, đảm bảo C. Mác và Ăngghen về nhà nước mà còn phát triển quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân một bước học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước Chính quyền nhân dân là mục tiêu cuối cùng của quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm lý * Trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Đà Nẵng luận này chính là sự kế thừa và phát triển của Lênin ** Học viện Chính trị Quốc gia Khu vực III, Đà Nẵng tapchinckhcd@dhcd.vn 3 NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI và chuyên chính vô sản, cũng như lý luận về mối nước, và phải đảm nhận ngay lập tức và đầy đủ các quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Sau khi chế độ tư chức năng quản lý nhà nước. Chủ trương này được sản bị lật đổ, nhân loại bước vào xã hội cộng sản chủ thể hiện trong việc thúc đẩy chính sách quốc hữu nghĩa. Ngay trong giai đoạn đầu chắc chắn tồn tại hóa ở nước Nga Xô-viết.

Lênin chủ trương sử dụng những tàn dư và các yếu tố tư bản chủ nghĩa, vì vậy các công đoàn như là tổ chức quan trọng để thực cần phải thiết lập một chế độ chuyên chính vô sản, hiện chính quyền nhân dân. Một mặt Lênnin coi thực hiện thống trị chính trị đối với giai cấp tư sản. công đoàn là tổ chức đoàn kết vô sản, nơi “tất cả vô Tuy nhiên, mô hình nhà nước này đã không còn là sản đoàn kết lại” [Lênin, 1976, T.246), tức trong “nhà nước trên ý nghĩa nguyên thủy”, với sự biến mất điều kiện xã hội chủ nghĩa công đoàn chắc chắn sẽ của giai cấp tư sản, không tồn tại sự phân chia giai phát triển thành các tổ chức vô sản, nơi tập hợp tất cấp, các thành viên trong xã hội không có sự phân cả quần chúng nhân dân lao động mà trong đó bao biệt trong các mối quan hệ xã hội, tầng lớp thống trị gồm cả nông dân. Mặt khác, công đoàn có một vị trí đất nước từng bước tiêu tan, nhà nước tự tiểu vong, và vai trò quan trọng đối với cách mạng và nhà nước người dân tự nguyện thành lập các hiệp hội sản xuất, Xô-viết.

Tổ chức công đoàn cách mạng lần đầu tiên thực hành tự quản, tự tổ chức sản xuất đời sống xã được thành lập trong phong trào bãi công của công hội, xã hội loài người sau đó bước vào giai đoạn tiên nhân Nga vào năm 1905, là tổ chức tập hợp nhiều tiến của chủ nghĩa cộng sản. Do đó, nhà nước vô sản cán bộ có trình độ và ý thức chính trị cao, có khả là một hình thức cách mạng tạm thời, là nhà nước năng tổ chức tuyệt vời, thiết lập được một mạng lưới dần dần tiêu vong, hình thái phát triển cuối cùng là tổ chức công đoàn từ trung ương đến cơ sở, từ “tự chủ nhân dân”, khi mà quá trình tự chủ nhân dân những công đoàn trong các nhà máy công nghiệp được hiện thực hóa thì cũng có nghĩa là nhà nước lớn đến việc hình thành các công đoàn cơ sở ở các cũng tiêu vong dần dần và quyền lực nhà nước dần địa phương, có cả một hệ thống tuyên truyền, hệ được trao trả lại cho xã hội. Chính trên nền tảng lý thống tài vụ, liên lạc và vũ trang cho công nhân. Sau luận này, Lênin tin rằng nước Nga Xô-viết sẽ được khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, đảng thành lập sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười, Bolshevik trở thành đảng cẩm quyền, nhưng vào thời đó là nhà nước chuyên chính của giai cấp vô sản, có điểm đó chỉ có 200.000 đảng viên, đó trở thành một tính chất quá độ từ xã hội tư bản sang xã hội cộng trở ngại lớn trong việc đảm đương nhiệm vụ thành sản chủ nghĩa.

Lênin gọi giai đoạn này là xã hội chủ lập một thể chế nhà nước từ trung ương đến địa nghĩa theo thực tiễn nước Nga, đưa lý luận Marxist phương và quản lý nền kinh tế của đất nước của một trải qua bước phát triển lớn. Do đó, đối diện với vấn quốc gia có dân số 140 triệu người. Ngoài tổ chức đề quản lý của nhà nước Xô-viết, quan điểm của đảng, đảng Bolshevik phải vào tổ chức công đoàn để Lênin là rất rõ ràng, chủ trương thực hành nhân dân xác lập thể chế nhà nước và đảm bảo một phần chức quản lý nhà nước, từng bước trao lại cho nhân dân năng quản lý kinh tế và sự chuyên chế của nhà nước, quyền lực nhà nước khi nào nhân dân có thể đạt đây là cách thức duy nhất phải lựa chọn vào thời được tự chủ thật sự. Được thúc đẩy bởi chính sách quốc hữu Vậy khi nào thì quyền tự chủ của nhân dân sẽ hóa, công đoàn thực sự đã trở thành cơ quan quyền được trao trả lại cho xã hội? Lênin cho rằng, trong lực của các xí nghiệp công nghiệp và tham gia trực điều kiện một nước xã hội chủ nghĩa, bản chất và địa tiếp vào việc quan lý đời sống chính trị xã hội của đất vị của công đoàn sẽ quyết định rằng công đoàn là nước.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý trực tiếp của tổ phôi thai của liên minh tự trị cộng sản tương lai và là chức công đoàn cũng bộc lộ nhiều vấn đề, Lênin đã tổ chức chủ yếu để thực hiện tự chủ nhân dân. Quốc sớm nhận ra rằng một nước Nga có tỷ lệ người mù hữu hóa diễn ra trong quá trình chuyên chính vô sản, chữ ở mức cao, trình độ sản xuất lạc hậu, người lao đó là cách duy nhất để nhận ra quyền tự chủ nhân động thiếu trình độ văn hóa, năng lực quản lý và dân. Ngay sau khi Liên xô được thành lập, Lênin hy phẩm chất chính trị cần thiết để trực tiếp điều hành vọng rằng quần chúng nhân dân có thể ngay lập tức nhà nước một cách có hiệu quả; do trình độ sản xuất nắm quyền quản lý trực tiếp đất nước và xã hội, tự còn lạc hậu nên tổ chức công đoàn vẫn là một tổ chủ trong các vấn đề của nhà nước. Nhưng làm thế chức bao gồm đại bộ phận công nhân, mà không nào để thực hiện loại hình dân chủ trực tiếp này một phải là toàn bộ lao động kể cả nông dân.

Do đó, để cách cụ thể, Lênin tin rằng điều này đòi hỏi phải có thực hiện quyền làm chủ của người dân, trước hết liên minh, là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của công đoàn phải trở thành “trường học của chủ nghĩa giai cấp công nhân, để trở thành một tổ chức nhà cộng sản” để người dân học các kỹ năng quản lý và 4 Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân Söë 27 thaáng 9/2022 NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI dạy họ cách quản lý; thứ hai, cần phải liên tục nâng nước là mục tiêu của tất cả những người xã hội chủ cao năng suất lao động của xã hội để mọi người dân nghĩa, đứng đầu là C. Nếu không đạt được mục có thể tham gia vào tổ chức công đoàn. Chỉ có như tiêu này thì không thể đạt được dân chủ thực sự, vậy, công đoàn mới trở thành tổ chức đại diện của bình đẳng và tự do. Chỉ có thông qua nền dân chủ toàn thể quần chúng lao động và thực hiện có hiệu Xô-viết, tức là nền dân chủ vô sản thì mục tiêu này quả sự nghiệp quản lý đất nước xã hội chủ nghĩa.

Để mới có thể thực sự đạt được, bởi vì việc tham gia thực hiện được hai điều kiện như trên đòi hỏi một quản lý nhà nước được thực hiện thông qua các tổ quá trình nỗ lực lâu dài, vì vậy “quốc hữu hóa” là mục chức đoàn thể, đó là tổ chức thu hút và tập hợp đa số tiêu lâu dài của công đoàn, xuyên suốt tiến trình lịch người lao động, đó là quá trình chuẩn bị cho sự tiêu sử của cả thời kỳ chuyên chính vô sản. Có thể thấy vong hoàn toàn của các nhà nước” [Lênin, 2005, T.35, rằng, mặc dù sau khi chiến tranh cách mạng trong tr. Tổ chức quần chúng của nhân dân lao động nước kết thúc, nỗ lực thực hiện quyền tự chủ của mà Lênin đề cập ở đây chủ yếu là nói đến tổ chức nhân dân thông qua tổ chức công đoàn đã bị gián công đoàn, vì tổ chức công đoàn là tổ chức quần đoạn, nhưng Lênin vẫn nhấn mạnh rằng, trong điều chúng quan trọng nhất, lớn nhất của nhân dân lao kiện của một nước xã hội chủ nghĩa, với sự phát triển động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ