Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019), Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri và nhân dân địa phương. HĐND cấp tỉnh thực hiện thẩm quyền ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật (VBQPPL) để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và quyết định các biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội tại địa phương.

Trước đây, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP chưa quy định cụ thể quy trình xây dựng chính sách trước khi tiến hành soạn thảo VBQPPL. Điều này dẫn đến tình trạng việc ban hành Nghị quyết tại nhiều địa phương còn đơn giản, chưa xác định rõ sự cần thiết, đối tượng, phạm vi điều chỉnh và chưa dự báo đầy đủ tác động kinh tế - xã hội. Khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, quy trình lập đề nghị và đánh giá tác động chính sách (ĐGTĐCS) đã được thiết lập độc lập. Tuy nhiên, quy định ban đầu buộc hầu hết các Nghị quyết đều phải lập đề nghị theo quy trình chính sách đã gây ra sự cứng nhắc, làm chậm tiến độ ban hành văn bản.

Đến năm 2020, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật năm 2020) và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đã điều chỉnh phạm vi, chỉ bắt buộc thực hiện quy trình xây dựng chính sách đối với Nghị quyết quy định "biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương" (khoản 4 Điều 27). Mặc dù khung pháp lý đã được hoàn thiện hơn, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: báo cáo đánh giá tác động còn sơ sài, thiếu công cụ định lượng, quy trình lấy ý kiến và thẩm định còn hình thức, quy định phân định thẩm quyền chưa thật sự rõ ràng. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài "Xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh" để nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật, làm cơ sở khoa học nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

Khóa luận thực hiện 03 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
  2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thi hành quy định của pháp luật về xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
  3. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng chính sách trong quy trình ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành liên quan đến lập đề nghị, xây dựng nội dung, đánh giá tác động, lấy ý kiến, thẩm định và thông qua chính sách trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.
  • Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu tại cấp tỉnh (HĐND cấp tỉnh của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Việt Nam).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu quy định theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và đánh giá số liệu thực tiễn thi hành từ ngày 01/7/2016 đến ngày 31/12/2023.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung pháp lý

Khóa luận tiếp cận khái niệm "chính sách" dưới góc độ khoa học pháp lý và khoa học chính sách thông qua quan điểm của các học giả quốc tế và trong nước:

  • Học giả quốc tế: James Anderson (1984, Public policymaking), Thomas R. Dye (1972, Understanding public policy), Mark Considine (1994, Public policy: A critical approach), và định nghĩa từ Black's Law Dictionary (7th edition).
  • Học giả trong nước: Tác phẩm của GS.TS. Vũ Cao Đàm (Giáo trình Khoa học chính sách, 2011), Đặng Ngọc Dinh (2011), cùng định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (1998).
  • Khái niệm pháp lý: Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Đánh giá tác động của chính sách là việc phân tích, dự báo tác động của chính sách đang được xây dựng đối với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu.

Khung văn bản pháp lý nền tảng được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013;
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP;
  • Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019);
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020;
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ;
  • Cẩm nang đánh giá tác động của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2010).

Tác giả kế thừa kết quả từ các công trình nghiên cứu trước đây như: Đề tài cấp Nhà nước do PGS.TS. Hoàng Thế Liên chủ nhiệm (2014); Đề tài cấp trường của Đại học Luật Hà Nội do TS. Cao Thị Oanh chủ nhiệm (2021); các công trình nghiên cứu của ThS. Nguyễn Hoàng Linh Chi, TS. Đoàn Thị Tố Uyên, ThS. Lê Tuấn Đô.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Khóa luận được xây dựng dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp;
  • Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết;
  • Phương pháp lịch sử;
  • Phương pháp quan sát khoa học;
  • Phương pháp điều tra xã hội học.

Nguồn dữ liệu thực tế được thu thập từ báo cáo tổng kết của các Bộ, ngành, địa phương gửi Chính phủ giai đoạn 2016–2023, kết hợp dữ liệu báo cáo chuyên đề và văn bản thực tế tại các tỉnh: Thái Nguyên, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng và khung quy trình pháp lý chuẩn:

  1. Khái niệm và đặc điểm: Chính sách là "linh hồn", định hướng và là cơ sở nền tảng quyết định nội dung của VBQPPL. Ngược lại, VBQPPL là phương tiện thể chế hóa chính sách để áp dụng bắt buộc trong đời sống. ĐGTĐCS bao gồm 05 nội dung bắt buộc: tác động kinh tế, tác động xã hội, tác động về giới (nếu có), tác động của thủ tục hành chính - TTHC (nếu có) và tác động đối với hệ thống pháp luật, được thực hiện bằng phương pháp định tính và định lượng.
  2. Phạm vi Nghị quyết phải lập đề nghị xây dựng chính sách: Theo Luật năm 2015, phạm vi này bao gồm các khoản 2, 3, 4 Điều 27. Sau khi sửa đổi năm 2020, Điều 111 quy định chỉ các đề nghị xây dựng Nghị quyết quy định biện pháp có tính chất đặc thù (khoản 4 Điều 27) mới bắt buộc phải lập đề nghị theo quy trình xây dựng và đánh giá chính sách.
  3. Quy định về thủ tục hành chính: Luật năm 2020 cho phép HĐND cấp tỉnh quy định TTHC trong 02 trường hợp: được Luật hoặc Nghị quyết của Quốc hội giao (khoản 1 Điều 27) và trường hợp ban hành biện pháp có tính chất đặc thù (khoản 4 Điều 27).
  4. Chủ thể và căn cứ: Chủ thể thực hiện gồm UBND cấp tỉnh (giao cơ quan chuyên môn tham mưu), các Ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh. Căn cứ xây dựng dựa trên 06 yếu tố: chủ trương của Đảng; văn bản của cơ quan cấp trên; kết quả tổng kết thi hành pháp luật/khảo sát thực trạng; yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển KT-XH; điều ước quốc tế; đề xuất của các cơ quan, tổ chức, đại biểu HĐND.
  5. Quy trình 07 bước lập đề nghị xây dựng Nghị quyết:
    • Bước 1: Xây dựng nội dung chính sách (nghiên cứu thực tiễn, xác định vấn đề bất cập, nguyên nhân, mục tiêu, định hướng giải pháp, đối tượng chịu tác động và thẩm quyền ban hành).
    • Bước 2: Đánh giá tác động của chính sách (xây dựng báo cáo ĐGTĐCS theo Mẫu số 01 Phụ lục V Nghị định số 154/2020/NĐ-CP).
    • Bước 3: Xây dựng hồ sơ, dự thảo đề nghị xây dựng chính sách.
    • Bước 4: Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng chính sách (đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử cấp tỉnh ít nhất 30 ngày; lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp ít nhất 10 ngày; đối thoại trực tiếp khi cần thiết).
    • Bước 5: Thẩm định đề nghị xây dựng chính sách (Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ và các cơ quan liên quan).
    • Bước 6: UBND cấp tỉnh xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết thông qua đề nghị.
    • Bước 7: UBND cấp tỉnh trình đề nghị đến Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định phân công cơ quan soạn thảo và ấn định thời hạn trình HĐND.

Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Những kết quả đạt được

  • Về quy mô ban hành: Theo số liệu báo cáo của các Bộ, ngành và địa phương từ ngày 01/7/2016 đến ngày 31/12/2023, cả nước có 6.870 đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền, cùng 31.098 Quyết định của UBND cấp tỉnh.
Địa phương Số lượng đề nghị xây dựng Nghị quyết HĐND cấp tỉnh (01/7/2016 – 31/12/2023)
Vĩnh Phúc 134
Thái Nguyên 129
Quảng Bình 127
Thanh Hóa 121
Hà Nội 120
Nam Định 108
Cần Thơ 95
  • Hiệu quả thực tế tại các địa phương điển hình:
    • Thái Nguyên (nhiệm kỳ 2016–2021): Ban hành 86 Nghị quyết về cơ chế, chính sách. Kết quả góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 13,4% (năm 2016) xuống còn 3,1% (năm 2020); 118/126 xã (93,65%) đạt chuẩn nông thôn mới; 6/9 đơn vị cấp huyện (66,67%) hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm; 99,67% hộ vùng núi có điện lưới; 100% xã vùng dân tộc thiểu số có trạm y tế (90% đạt chuẩn quốc gia); hỗ trợ 30% mức đóng bảo hiểm y tế cho hộ nghèo thiếu hụt dịch vụ xã hội giúp nâng tỷ lệ bao phủ BHYT năm 2020 đạt 98,5%.
    • Đắk Lắk: HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 11/2021/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 78/2012/NQ-HĐND về chính sách bảo tồn voi (hỗ trợ ngân sách đào tạo nhân lực, quy hoạch nơi chăn thả, kinh phí hỗ trợ chủ voi chuyển đổi sang mô hình du lịch thân thiện với voi và giao lại voi cho Trung tâm bảo tồn).
    • Thừa Thiên Huế: Ban hành Nghị quyết số 36/2022/NQ-HĐND (kế thừa Nghị quyết số 09/2015/NQ-HĐND về làng cổ Phước Tích) thực hiện 5 nhóm chính sách hỗ trợ trùng tu, tôn tạo, quản lý nhà vườn Huế đặc trưng và nhà rường cổ giai đoạn 2023–2026.
  • Về chất lượng: Quy trình được kiểm soát chặt chẽ hơn; hoạt động thẩm định của Sở Tư pháp và thẩm tra của các Ban thuộc HĐND tăng cường tính phản biện; phát huy dân chủ trong thảo luận tại kỳ họp.

2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Khóa luận chỉ ra hai nhóm bất cập lớn trong quy định pháp luật và thực tiễn triển khai:

Hạn chế từ các quy định pháp luật:

  • Chưa có định nghĩa chuẩn xác về "biện pháp có tính chất đặc thù": Cả Luật năm 2015, Luật năm 2020 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đều không giải thích cụ thể thuật ngữ này, dẫn đến tranh cãi giữa việc HĐND tỉnh tự chủ động ban hành hay phải chờ Trung ương phân cấp, đồng thời gây nhầm lẫn giữa khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 27 (điển hình như vướng mắc tại Hà Tĩnh khi phân định Nghị quyết số 12/2018/NQ-HĐND về nông nghiệp nông thôn, Nghị quyết số 252/2020/NQ-HĐND về tài sản trí tuệ và Nghị quyết số 86/2018/NQ-HĐND về công nghiệp).
  • Quy định về ĐGTĐCS chưa sát thực tế: Hướng dẫn trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP mang tính nguyên tắc, biểu mẫu rườm rà, thiếu công cụ đo lường chi phí - lợi ích định lượng, gây khó khăn cho cấp cơ sở. Có sự thiếu nhất quán trong việc dùng cụm từ "đánh giá tác động của chính sách" và "đánh giá tác động văn bản" tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật năm 2015.
  • Thiếu sót trong Luật sửa đổi năm 2020: Bỏ sót quy định thẩm tra đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh (trong khi Điều 47 quy định thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh); chưa quy định rõ văn bản ban hành theo thủ tục rút gọn (Điều 148) có phải lập đề nghị xây dựng chính sách hay không; thiếu cơ chế cụ thể để thu hút chuyên gia, nhà khoa học tham gia góp ý.
  • Hạn chế trong quy trình thẩm định: Thời hạn thẩm định thực tế của Sở Tư pháp chỉ có 10 ngày (theo khoản 4 Điều 131 Luật năm 2015) là quá ngắn đối với các chính sách phức tạp. Quy trình thẩm định giữa đề nghị do UBND trình và đề nghị của các chủ thể khác chưa có sự đồng bộ.

Nguyên nhân:

  • Năng lực cán bộ và đại biểu HĐND chưa đồng đều ở các lĩnh vực chuyên sâu (tài chính, đất đai, kỹ thuật).
  • Việc đăng tải lấy ý kiến 30 ngày trên Cổng thông tin điện tử còn mang tính hình thức, công chúng ít tiếp cận, cơ quan lập đề nghị mới chỉ có đề cương sơ bộ chứ chưa có dự thảo chi tiết.
  • Hoạt động giám sát của HĐND và cơ quan cấp trên đối với quy trình ban hành VBQPPL chưa thường xuyên, thiếu kinh phí cho công tác phân tích chính sách.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Tác giả đề xuất 03 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Giải pháp về tổ chức thực hiện xây dựng chính sách:
    • Tăng cường công tác tập huấn kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu về phân tích, ĐGTĐCS và kỹ thuật soạn thảo văn bản cho công chức các Sở, ban, ngành và đại biểu HĐND tỉnh.
    • Nâng cao tính thực chất trong hoạt động lấy ý kiến nhân dân và đối tượng chịu sự tác động; đa dạng hóa hình thức khảo sát, đối thoại trực tiếp thay vì chỉ đăng tải trên cổng thông tin điện tử.
    • Phát huy vai trò phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh; chủ động mời các chuyên gia, nhà khoa học tham gia vào quá trình thẩm định, thẩm tra chính sách.
  2. Hoàn thiện quy định pháp luật về xây dựng chính sách:
    • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể tiêu chí xác định "biện pháp có tính chất đặc thù" (khoản 4 Điều 27) để phân định rõ ràng với "biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội" (khoản 3 Điều 27).
    • Bổ sung quy định bắt buộc thẩm tra đối với đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh vào Luật Ban hành VBQPPL.
    • Làm rõ quy trình xây dựng chính sách đối với các trường hợp ban hành Nghị quyết theo thủ tục rút gọn tại Điều 148 Luật Ban hành VBQPPL.
    • Điều chỉnh kéo dài thời hạn thẩm định của Sở Tư pháp đối với các dự thảo Nghị quyết phức tạp; chuẩn hóa biểu mẫu ĐGTĐCS phù hợp với nguồn lực địa phương.
  3. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng phối hợp và bảo đảm nguồn lực:
    • Tăng cường phối hợp giữa cơ quan chuyên môn chủ trì soạn thảo với tổ chức pháp chế và các Ban của HĐND tỉnh ngay từ khâu lập đề nghị.
    • Bố trí nguồn kinh phí thỏa đáng và trang bị công cụ kỹ thuật phục vụ công tác thu thập số liệu, điều tra xã hội học và ĐGTĐCS độc lập.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quy trình lập đề nghị và ĐGTĐCS trong ban hành Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo tiến trình sửa đổi của pháp luật (Luật năm 2004, Luật năm 2015 và Luật sửa đổi năm 2020).
  • Cung cấp số liệu tổng kết thực tiễn giai đoạn 2016–2023 với 6.870 đề nghị xây dựng Nghị quyết HĐND cấp tỉnh trên cả nước, đi sâu phân tích mô hình chính sách thực tế tại các địa phương (Thái Nguyên, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh).
  • Định vị chính xác các khoảng trống pháp lý: lỗ hổng về thẩm tra đề nghị xây dựng Nghị quyết cấp tỉnh trong Luật năm 2020; sự mập mờ trong tiêu chí xác định biện pháp đặc thù; áp lực thời gian trong khâu thẩm định của Sở Tư pháp.

Đóng góp của đề tài

So với các công trình trước đây vốn chủ yếu nghiên cứu hoạt động xây dựng chính sách ở cấp Trung ương (luật, pháp lệnh, nghị định) hoặc chỉ nghiên cứu kỹ thuật lập quy nói chung của HĐND, khóa luận này là công trình chuyên sâu đánh giá riêng khâu xây dựng chính sách trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh sau khi Luật năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Đề tài đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc sửa đổi luật thực định và hoàn thiện kỹ năng tổ chức thi hành ở địa phương.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi dữ liệu và thực tiễn của khóa luận tập trung chủ yếu vào cấp tỉnh và các mảng chính sách KT-XH điển hình (nông nghiệp, văn hóa, an sinh, bảo tồn) được tổng kết đến ngày 31/12/2023; chưa đi sâu khảo sát toàn diện các chính sách đặc thù theo cơ chế thí điểm riêng biệt của các đô thị đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế ĐGTĐCS đối với các Nghị quyết thí điểm cơ chế đặc thù tại các thành phố lớn trực thuộc Trung ương (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng); xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số định lượng chi phí - lợi ích chuẩn hóa áp dụng riêng cho các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hành chính - Nhà nước, Luật Lập pháp, Quản lý công và Chính sách công; cán bộ pháp chế tại các Sở, ban, ngành; chuyên viên Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND, Văn phòng UBND cấp tỉnh; thành viên các Ban của HĐND cấp tỉnh và cán bộ thẩm định Sở Tư pháp.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Quy trình chi tiết 07 bước lập đề nghị xây dựng chính sách (Chương 1).
    • Bảng tổng hợp số liệu đề nghị xây dựng nghị quyết các tỉnh và các case study thực tế về chính sách bảo tồn voi (Đắk Lắk), nhà vườn cổ (Thừa Thiên Huế), an sinh nông thôn mới (Thái Nguyên) tại Chương 2.
    • Các luận cứ phản biện về sự bất cập giữa khoản 3 và khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL.

Câu hỏi thường gặp

  1. Theo Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi năm 2020, loại Nghị quyết nào của HĐND cấp tỉnh bắt buộc phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách?
    Trả lời: Theo quy định tại Điều 111 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), chỉ có đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (khoản 4 Điều 27) mới bắt buộc phải lập đề nghị, xây dựng nội dung và đánh giá tác động của chính sách.

  2. Quy trình lập đề nghị xây dựng chính sách trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh gồm bao nhiêu bước?
    Trả lời: Quy trình gồm 07 bước: (1) Xây dựng nội dung chính sách; (2) Đánh giá tác động của chính sách; (3) Xây dựng hồ sơ, dự thảo đề nghị; (4) Lấy ý kiến về đề nghị; (5) Thẩm định đề nghị tại Sở Tư pháp; (6) UBND cấp tỉnh thông qua đề nghị; (7) Trình Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định phân công cơ quan soạn thảo.

  3. HĐND cấp tỉnh có được phép ban hành thủ tục hành chính (TTHC) trong Nghị quyết không?
    Trả lời: Theo Luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), HĐND cấp tỉnh được quy định TTHC trong 02 trường hợp: (1) Trường hợp được Luật hoặc Nghị quyết của Quốc hội giao (khoản 1 Điều 27); (2) Trường hợp cần thiết phải quy định TTHC trong Nghị quyết ban hành biện pháp có tính chất đặc thù của địa phương (khoản 4 Điều 27).

  4. Từ ngày 01/7/2016 đến 31/12/2023, cả nước đã ghi nhận bao nhiêu đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh?
    Trả lời: Theo số liệu báo cáo của các Bộ, ngành và địa phương, trong giai đoạn này cả nước đã ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền 6.870 đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và 31.098 Quyết định của UBND cấp tỉnh.

  5. Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi năm 2020 có khoảng trống pháp lý nào về hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng Nghị quyết HĐND cấp tỉnh?
    Trả lời: Trong khi Điều 47 Luật năm 2020 quy định cụ thể việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, thì Luật lại chưa có điều khoản quy định về việc thẩm tra đối với đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, tạo ra thiếu sót trong việc kiểm soát chính sách trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Xây dựng chính sách trong hoạt động ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh" đã phân tích có hệ thống khung lý luận và thực tiễn thi hành quy định pháp luật về quy trình lập đề nghị chính sách địa phương từ năm 2016 đến năm 2023. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế tại nhiều tỉnh thành và chỉ ra các vướng mắc về thẩm quyền, kỹ thuật đánh giá tác động cũng như thời hạn thẩm định, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Đây là tài liệu nghiên cứu pháp lý chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại chính quyền địa phương cấp tỉnh.