Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã 1. Khái niệm, vị trí, tính chất, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã HĐND xuất hiện đầu tiên trong Sắc lệnh số 63 –SL ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức quyền hạn, cách làm việc của HĐND và UBHC có hiệu lực thi hành ngày 8 tháng 12 năm 1945. Tại Điều 1, Sắc lệnh có quy định: “Để thực hiện chính quyền Nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: HĐND và Ủy ban hành chính.
HĐND do Nhân dân bầu ra theo lối bỏ phiếu phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho Nhân dân” [1]. Sắc lệnh cũng đã khẳng định: “Ở hai cấp xã và tỉnh có HĐND và Ủy ban hành chính ở các cấp huyện và kỳ chỉ có Ủy ban hành chính”. Ngay từ văn bản đầu tiên khi quy định về vị trí, tính chất cho HĐND đã không có quy định riêng cho HĐND cấp xã mà quy định chung cho HĐND các cấp. HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, do Nhân dân trong xã, phường, thị trấn trực tiếp bầu ra, Nhân dân trong xã, phường, thị trấn trực tiếp trao quyền cho HĐND cấp xã, HĐND cấp xã trực tiếp nhận quyền từ Nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ của Nhân dân trong xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm trước Nhân dân trong xã, phường, thị trấn và cơ quan nhà nước cấp trên.
Theo Điều 113 Hiến pháp năm 2013 thì “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên". Hiến pháp đã nhấn mạnh và đề cao tính đại diện của HĐND trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, 9 quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy quyền chủ động, sáng tạo của địa phương. Tính quyền lực Nhà nước của Hội đồng nhân dân biểu hiện ở chỗ: nó thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên phân giao.
Quyết định của Hội đồng nhân dân có tính bắt buộc chung đối với các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương. Uỷ ban nhân dân "do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp". Tiếp tục trong Điều 6 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức CQĐP năm 2015 tiếp tục kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của HĐND trong hệ thống CQĐP.
Theo đó, HĐND các cấp nói chung và HĐND cấp xã nói riêng vừa là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương vừa là cơ quan có tính chất đại diện cho Nhân dân trong xã, phường, thị trấn. Trong hệ thống các cơ quan thuộc CQĐP, HĐND cấp xã giữ vị trí quan trọng nhất so với các cơ quan nhà nước khác ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn bởi: HĐND cấp xã được Nhân dân trong xã, phường, thị trấn bầu trực tiếp, HĐND cấp xã trực tiếp nhận quyền lực từ Nhân dân, là cơ quan đại diện tập trung nhất, đầy đủ nhất cho ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ của Nhân dân trong xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm chính trước Nhân dân và các cơ quan nhà nước cấp trên. Quyền lực của HĐND cấp xã là do Nhân dân trong xã, phường, thị trấn trực tiếp giao, được Nhân dân trực tiếp ủy quyền quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nên quyền lực của HĐND cấp xã bao trùm trên toàn bộ địa giới hành 10 chính lãnh thổ của xã, phường, thị trấn tác động đến UBND cấp xã và các tổ chức, cá nhân khác trong xã, phường, thị trấn. HĐND cấp xã và UBND cấp xã đều là cơ quan nhà nước ở địa phương, hợp thành chính quyền cấp xã, mặc dù không phải là cơ quan cấp trên của UBND cấp xã nhưng HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực đối với UBND cấp xã, có khả năng và điều kiện chi phối tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã như: Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khách của UBND cấp xã; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND cấp xã; giám sát hoạt động của UBND cấp xã.Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HĐND cấp xã trong hệ thống CQĐP đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, nhưng HĐND cấp xã chỉ có thể đứng ở đúng vị trí của mình nếu việc triển khai thực hiện trên thực tế có hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật đã quy định cho mình.
Về tính chất của HĐND cấp xã, HĐND cấp xã được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, phường, thị trấn đồng thời là cơ quan có tính chất đại diện cho Nhân dân trong xã, phường, thị trấn. Hai tính chất này gắn bó với nhau, tạo nên bản chất, vị trí và vai trò quan trọng của HĐND cấp xã. Tính đại diện của HĐND cấp xã được thể hiện ở cách thức hình thành nên HĐND cấp xã, đây là nguyên nhân dẫn đến tính đại diện của HĐND cấp xã với tư cách là cơ quan do Nhân dân trong xã, phường, thị trấn trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín để đại diện cho tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng, quyền lợi của Nhân dân trong xã, phường, thị trấn. HĐND cấp xã là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp Nhân dân trong xã, phường, thị trấn, bao gồm các đại biểu ưu tú nhất của mọi tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, các tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp công nhân, nông dân, trí thức… HĐND cấp xã đại diện cho trí tuệ, tinh thần, sức mạnh của Nhân dân địa phương.
HĐND cấp xã có tính độc lập tương đối, thực hiện hai chức năng cơ bản là “quyết định” và “giám sát” cụ thể: Tính quyền lực nhà nước của HĐND cấp xã thể hiện qua việc Nhân dân trong xã, phường, thị trấn trực tiếp trao quyền cho HĐND cấp xã thay mặt mình để thực hiện quyền lực Nhân dân, đồng thời thực hiện những 11 nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân giao để quyết định các vấn đề quan trọng của xã, phường, thị trấn trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế. Tham gia thành lập HĐND, UBND cấp xã như: Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban của HĐND cấp xã; Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các Ủy viên UBND cấp xã. Tính quyền lực nhà nước của HĐND cấp xã còn được thể hiện ở quyền giám sát theo quy định của pháp luật đối với tổ chức và hoạt của UBND cấp xã và các tổ chức, cá nhân khác; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương. Quyền giám sát của HĐND cấp xã vừa phản ánh tính quyền lực nhà nước, vừa phản ánh quyền lực của Nhân dân trong xã, phường, thị trấn đối với các hoạt động của nhà nước tại xã, phường, thị trấn (Điều 33 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015).
Quyết định của HĐND cấp xã có tính bắt buộc chung đối với các cơ quan, tổ chức và công dân trên địa bàn cấp xã. UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu là cơ quan chấp hành của HĐND cấp xã, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên. Tính quyền lực nhà nước của HĐND cấp xã được thể hiện chủ yếu trong chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp xã. HĐND cấp xã là hình thức tổ chức CQĐP kiểu mới, nó không phải là cơ quan tự quản ở địa phương, cơ quan đại diện, cơ quan tư vấn bên cạnh cơ quan hành chính như trong CQĐP thời kỳ phong kiến trước đây và tư bản hiện nay [15, tr.157] mà là cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước của Nhân dân địa phương.
HĐND cấp xã với tính chất là cơ quan đại diện, có phương thức hoạt động theo kỳ họp, ra nghị quyết về các vấn đề xây dựng xã, phường, thị trấn; giám sát việc tuân theo pháp luật của UBND cấp xã và các chủ thể khác tại xã, phường, thị trấn. Như vậy, nguồn gốc tạo nên tính chất đại diện và tính chất quyền lực nhà nước của HĐND cấp xã là Nhân dân trong xã, phường, thị trấn. Nhân dân lập nên HĐND cấp xã nhờ đó mà HĐND cấp xã mới có thể đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Do là cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhân dân, được Nhân dân giao cho thực thi quyền lực nên mới mang quyền lực nhà nước, trở 12 thành cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương.
Tính đại diện và tính quyền lực nhà nước được Hiến pháp, luật ghi nhận và bảo đảm thi hành trên thực tế nên hai tính chất này mới được thể hiện đúng đắn, đầy đủ, phù hợp với ý chí và đáp ứng được nguyện vọng của Nhân dân trong xã, phường, thị trấn. Tính đại diện và tính quyền lực nhà nước của HĐND cấp xã có mối liên hệ thống nhất và biện chứng với nhau, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã có quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.