Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH 1. Quan niệm về giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh 1. Nhận thức chung về giám sát 1. Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu cụ thể.
Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1988, thì giám sát là "Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không?" [13]. Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa – Thông tin, 1998 do Nguyễn Như Ý chủ biên lại định nghĩa giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [33]. Theo Từ điển Luật học, giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh [1].
Có thể thấy rằng thuật ngữ "giám sát" được dùng rất phổ biến trong khoa học chính trị, pháp lý và được đề cập trong nhiều tài liệu khác nhau. Trong phạm vi luận văn này, giám sát được hiểu theo Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện 8 nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [15]. Phân biệt giám sát, kiểm tra, thanh tra Giám sát dùng để chỉ hoạt động của chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Có thể hiểu, giám sát là một hoạt động xem xét có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác, tức là giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc.
Kiểm tra là loại hoạt động mà chủ thể kiểm tra tiến hành xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra để đưa ra những đánh giá, nhận xét, kiến nghị, xử lý. Hoạt động kiểm tra có thể được phân loại như sau: Hoạt động kiểm tra chức năng (VD: kiểm tra tài chính, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm…); Hoạt động kiểm tra nội bộ (kiểm tra của người có thẩm quyền, của bộ phận có nhiệm vụ trong nội bộ một cơ quan); Hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới (VD: kiểm tra của bộ với sở…). Chủ thể kiểm tra gồm: Kiểm tra của Đảng; Kiểm tra của nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (kiểm tra của người có thẩm quyền; kiểm tra của cơ quan chức năng; kiểm tra của đoàn kiểm tra). Thanh tra là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước, do những cơ quan thanh tra có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý 9 nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Hoạt động thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước, là chức năng, giai đoạn, công cụ, phương tiện quản lý nhà nước. Hoạt động thanh tra mang tính quyền lực nhà nước và có tính độc lập tương đối. Có thể thấy, giám sát, thanh tra, kiểm tra đều là những hoạt động nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, từ những phân tích trên đây có thể nhận thấy giám sát khác với kiểm tra và thanh tra ở một số điểm như sau: - Giám sát khác với kiểm tra Đối với kiểm tra thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, đó là việc tự kiểm tra của đối tượng hoạt động (tự xem xét, đánh giá); nhưng giám sát thì không có tình trạng chủ thể tự theo dõi, xem xét hoạt động của chính mình mà bao giờ cũng phải thông hoạt động của cơ quan (người) khác.
- Giám sát khác với thanh tra Thanh tra và giám sát có chỗ giống nhau là đều có hoạt động “xem xét, đánh giá” nhưng khác nhau ở chỗ giám sát là sự “chủ động theo dõi” còn thanh tra thường chỉ xem xét khi có dấu hiệu, sự việc vi phạm xảy ra. Hậu quả pháp lý của giám sát chủ yếu thông qua hình thức “kiến nghị” còn thanh tra là áp dụng những biện pháp xử lý cụ thể. Thanh tra được tiến hành bởi chủ thể xác định, có thẩm quyền, với trình tự, thủ tục chặt chẽ theo luật định, là hoạt động đặc thù của hệ thống hành pháp; còn giám sát (theo giới hạn trong luận văn này) lại là hoạt động đặc thù của cơ quan quyền lực nhà nước. Hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh 1.
Vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức và chức năng của Hội đồng nhân dân tỉnh Thường trực Hội đồng nhân dân là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân. Do vậy, trước khi nghiên cứu về hoạt động giám sát của Thường 10 trực Hội đồng nhân dân tỉnh, cần làm rõ vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức và chức năng của Hội đồng nhân dân tỉnh. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh Theo Điều 113, Hiến pháp năm 2013 và Điều 6, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [14], [17]. Như vậy, vị trí pháp lý của HĐND có thể xét theo 02 góc độ: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân địa phương.
Do vị trí pháp lý như trên, quyền lực của HĐND được giới hạn trong phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ, tuy là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND không có quyền lập pháp, mà là cơ quan có chức năng quản lý địa phương thực hiện nhiều hoạt động mang tính chấp hành và điều hành. HĐND còn là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, có quyền chủ động giải quyết các vấn đề trong phạm vi địa phương, không đối lập với lợi ích chung của quốc gia và chính sách, pháp luật của nhà nước. Vị trí này dẫn đến việc ta có thể hình dung HĐND như chiếc cầu nối giữa nhân dân và nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ, mối quan hệ hai chiều được thúc đẩy khi dung hòa giữa yếu tố quyền lực nhà nước và yếu tố ý chí của nhân dân. HĐND là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước thống nhất của nhân dân.
Vì vậy, HĐND không chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương mà còn phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên. Điều này đảm bảo cho nguyên tắc tập trung dân chủ khi xây dựng bộ máy nhà nước. Tính quyền lực nhà nước ở địa phương của HĐND biểu hiện một số mặt 11 cơ bản: HĐND quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục…; tham gia thành lập các cơ quan nhà nước khác ở địa phương như bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên TTHĐND; chủ tịch, phó chủ tịch, và các thành viên khác của UBND.; tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cùng cấp và cấp dưới, giám sát việc tuân theo pháp luật ở địa phương. Tính đại diện của HĐND thể hiện ở chỗ HĐND là cơ quan do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Vì thế, HĐND trong nhà nước ta là những cơ quan nhà nước gần gũi nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân, nắm vững những đặc điểm của địa phương, do đó mà có thể quyết định những vấn đề sát hợp với nguyện vọng của nhân dân. Những quyết định này được thể chế hóa thành Nghị quyết, các Nghị quyết của HĐND phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân địa phương, đồng thời phù hợp với lợi ích toàn dân, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và trung ương. HĐND chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân địa phương. Các đại biểu không còn được nhân dân tín nhiệm sẽ bị bãi nhiệm.
Trong tính chất và hoạt động của mình, HĐND phải thể hiện đầy đủ hai tính chất nêu trên. Nếu quá thiên về tính đại diện mà không thể hiện tính quyền lực nhà nước thì HĐND chỉ là một tổ chức xã hội. Nếu chỉ thiên về tính quyền lực nhà nước, không chú ý đến tính đại diện thì HĐND trở thành cơ quan nhà nước quan liêu, xa rời nhân dân. Cơ cấu tổ chức của HĐND tỉnh Theo Điều 18, Luật tổ chức chính quyền địa phương thì HĐND tỉnh có cơ cấu tổ chức như sau: 12 - Hội đồng nhân dân tỉnh gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở tỉnh bầu ra.
- Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân và Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh. Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.