Chương 1, sách nghiên cứu đến việc lãnh đạo các đảng phái ở Quốc hội. Ở nước Mỹ có nhiều đảng phái, nhưng chỉ có hai đảng gồm Đảng dân chủ và Dang cộng hòa là hai đảng mạnh nhất luôn chiếm ưu thế, thay nhau cam quyền và tác động sâu rộng đến nền chính trị Mỹ. Trong bộ máy lập pháp ở cả Thượng viện và Hạ viện thì việc thông qua các điều luật lại bị chỉ phối bởi sự phân chia về các đảng phái. Trong cuộc đấu tranh của các đảng phái, đảng đa số luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện rõ sự thuận lợi băng sự chi phối đến các nhà lãnh đạo của cả hai viện, của các ủy ban, các tiêu ban của ngành lập pháp.
Trong các vị trí lãnh đạo của đảng ở Quốc hội, có một người có chức vụ đo hiến pháp lập ra đó là chủ tịch Hạ viện; chương 2, nghiên cứu tiến trình lập pháp và chương 3, nghiên cứu về hệ thống ủy ban của Quốc hội. - “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước trên thế giới” do TS Nguyễn Sĩ Dũng chủ biên và Hoàng Minh Hiếu đồng chủ biên xuất bản năm 2014. Cuốn sách là thành quả nghiên cứu rất công phu về nghị viện của một số nước trên thé giới như: Hoa Kỳ, Đức, Thụy Điền, Trung Quốc. Một trong những nội dung được cuốn sách tập trung nghiên cứu như: bản chất, vai trò, chức năng, cơ cau tô chức của Nghị viện một SỐ nước, quy trình, thủ tục hoạt động của nghị viện một SỐ nước; tổ chức, hoạt động của các co quan mô hình tô chức và hoạt động của cơ quan giúp việc nghị viện.
Trong đó, làm rõ mối quan hệ giữa tính chất của nghị viện với quy trình và thủ tục làm việc của nghị viện như: tính chất làm việc tập thể của nghị viện yêu cầu phải xây dựng những quy trình, và thủ tục làm việc hợp lý [132, tr.226]; hoạt động lập pháp của nghị viện có vai trò quan trọng đối với quốc gia, nên yêu cầu công việc của nghị viện phải được tổ chức theo những quy trình và thủ tục chặt chẽ [132, tr.227]; quy trình và thủ tục làm việc của nghị viện được xây dựng dé đảm bao tinh dan chu cua nghi vién. - “Mô hình tô chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ”, của GS.TS Trần Ngọc Đường xuất bản năm 2008; nội dung cuốn sách này nghiên cứu 3 phan lớn, trong mỗi phần được kết cấu thành các chương. Phan 1 bao gồm cơ sở lý luận của việc đôi mới mô hình tô chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; phần 2 nghiên cứu về thực trạng mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ ở nước ta và phần 3 nghiên cứu việc cần hoàn thiện mô hình tô chức, phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay. - Quốc hội Việt Nam, Tổ chức, hoạt động và đổi mới của tác giả Phan Trung Lý xuất bản năm 2010.
Cuốn sách là công trình khoa học nghiên cứu công phu về nghiên cứu về tô chức và hoạt động cua Quôc hội; đặc biệt chương 2 nghiên cứu đên 10 hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội. Trong đó đặt ra yêu cầu cơ bản nhằm đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội như: đòi hỏi hoạt động lập pháp của Quốc hội phải vươn lên hơn nữa để một mặt tạo nên cơ sở pháp lý đầy đủ để các cơ quan, tổ chức hoạt động, mặt khác, vạch ra hành lang pháp lý dé công dân yên tâm làm ăn, sinh sống [49]; nâng cao chất lượng, tăng cường tinh kha thi của chương trình xây dựng Luật pháp lệnh; phải tiếp tục cải tiến quy trình lập pháp để nhanh chóng có được hệ thống pháp luật đồng bộ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [49]. Đồng thời, đánh giá những tồn tại ảnh hưởng đến hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta. - Hội thảo: “7:6 chức và hoạt động của Quốc hội, kinh nghiệm của Việt Nam và Quốc té” do Viện Nghiên cứu Lập pháp phối hợp với Quỹ Rosa Luxemburg (CHLB Đức) tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 24-25 tháng 4 năm 2014.
Trên cơ sở 12 tham luận và nhiều ý kiến thảo luận, Hội thảo đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng, trong đó có các nội dung cơ bản về mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt nam và một số nước như Canada, Đức, Myanmar. Trong đó nhắn mạnh các nội dung liên quan đến chức năng quan trọng là quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam và nghị viện của một s6 nước. - Lê Thanh Vân là tác giả luận án Tiến sĩ “Cơ sở ly luận của việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” (2003); tac giả luận án phân tích những quan điểm, nhận thức chung về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam, đánh giá thực trạng về tô chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đặt ra các nội dung VỀ cơ cở lý luận của việc đôi mới cơ cau tô chức và hoạt động của Quốc hội nước ta.
Những cơ sở lí luận này rất cần thiết, phù hợp với nhu cầu thực tế của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. - Luận án “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (2007) của Trần Hồng Nguyên; tác giả luận án đã làm rõ chức năng lập pháp của Quốc hội là chức năng quan trọng nhất, được quy định xuyên suốt trong các Hiến pháp của Việt nam. Theo luận án, mặc dù pháp luật quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp nhưng trên thực tế và lý luận đang đặt ra và cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ dé có quy định cụ thé, khoa học hơn. Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động ban hành nghị quyết của Quốc hội - Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Quốc hội trong hoạt động lập pháp và quyết định các vấn dé quan trọng của đất nước” do GS.
TS Hồ Trọng Ngũ làm chủ nhiệm. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trên cơ sở phân tích lý luận, thực tiễn dé khang định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu vào đời sống quốc tế, xây dựng nén kinh tế thị trường, xây dựng nha nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; chứng minh nhu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; đánh giá những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân tác động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong hoạt động lập pháp, quyết định những van dé quan trọng của đất nước. Đồng thời, xác định phương hướng, giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động lập pháp, quyết định các van dé quan trọng của đất nước. Trong đó, dé tài nhắn mạnh sự tăng cường, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội chính là để củng cố, nâng cao sức mạnh của Quốc hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- “Một số vấn dé lý luận và thực tiễn xây đựng và thực hiện nghị quyết của Quốc hội” của PGS.TS Vũ Hồng Anh xuất bản năm 2013. Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến nghị quyết của Quốc hội như: lý luận về tính pháp lý, hiệu lực hiệu quả thực hiện nghị quyết, các tiêu chí để đánh giá hiệu lực hiệu quả nghị quyết của Quốc hội, xác định những yếu tô tác động của nghị quyết. Công trình cũng đánh giá thực trạng về việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay, đưa ra những quan điểm và một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nghị quyết của Quốc hội Việt Nam gồm: giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm của những chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng, các chủ thê tham gia vào quá trình thông qua nghị quyết; nâng cao chất lượng nghị quyết; nâng cao công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết. - “Tính chất, nội dung nghị quyết của Quốc hội trong mối tương quan với luật” của tác giả Hoàng Thị Ngân là bài viết quan trọng liên quan đến nghị quyết của Quoc hội, trong đó xác định rõ về tính chat và nội dung của nghị quyết.
Tác giả có sự 12 phận tích kỹ lưỡng và đánh giá sâu sắc về tính chất của nghị quyết Quốc hội sau khi phân loại chúng. - “Nghị quyết của Quốc hội là văn bản Luật hay văn bản dưới luật đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 203, 9/2011 của tác giả Phan Trung Hiền. Tác giả đã tiếp cận các khái niệm có liên quan đến hoạt động lập pháp và hoạt động lập quy của các cơ quan nhà nước có thâm quyên; xác định nội dung nào được ban hành bởi luật hay nghị quyết. Đặc biệt, tác giả đánh giá tính chất về các nghị quyết Quốc hội và đề xuất một vài giải pháp về cách xác định tính chất nghị quyết Quốc hội.
Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết Quốc hội - Tác giả Vũ Mão có công trình “Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh của UBTVOH” (1999 - 2003) và được viết thành sách năm 2004 với tên gọi “Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội” nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quy trình lập pháp của Quốc hội và pháp lệnh của UBTVQH. Từ đó, đưa ra nhóm giải pháp cần chú trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội như: việc chuẩn bị, quyết định, thảo luận thông qua các dự án luật tại kỳ họp Quốc hội, nâng cao chất lượng đại biểu. Nội dung chủ yếu được tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quy trình lập pháp nói chung mà không trực tiếp nghiên cứu đến quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội.