Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tổ chức bộ máy nhà nước, Chính phủ giữ vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp. Xuất phát từ thực tiễn quản lý và điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội, Chính phủ là chủ thể chủ yếu phát hiện những vướng mắc pháp lý và đề xuất chính sách lập pháp. Theo số liệu thống kê trong khóa luận, các dự án luật do Chính phủ trình thường chiếm khoảng 90% tổng số dự án luật được trình ra Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng luật của Chính phủ thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về tiến độ, tính khả thi và chất lượng dự thảo, khiến một số đạo luật chưa phát huy tối đa hiệu quả trong thực tế. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định phương hướng tiếp tục đổi mới, nâng cao quy trình xây dựng luật nhằm xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai và minh bạch.
Nhằm góp phần giải quyết yêu cầu trên, đề tài khóa luận "Trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Đặng Văn Trường thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Ngô Tuyết Mai tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023).
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là khái quát cơ sở lý luận về trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật, làm rõ thực trạng thực hiện và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động này. Để đạt được mục tiêu, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát về trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay, bao gồm quy trình, nội dung trách nhiệm và lý giải tính tất yếu khách quan của trách nhiệm này.
- Phân tích, làm rõ thực trạng thực hiện trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật nhằm đánh giá một cách hệ thống, toàn diện và chỉ ra các nguyên nhân hạn chế.
- Luận giải và đưa ra các giải pháp, phương hướng nhằm tăng cường trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, quan điểm khoa học về quy trình xây dựng luật; quy định pháp luật và nội dung thể hiện trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động xây dựng luật tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian và nội dung: Hoạt động xây dựng luật của Chính phủ Việt Nam theo quy định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và mối quan hệ phối hợp với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), các bộ, cơ quan ngang bộ.
- Về thời gian và dữ liệu thực tiễn: Tập trung vào hệ thống pháp luật hiện hành (trọng tâm là Hiến pháp năm 2013, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2020) và số liệu thực tiễn lập pháp qua các nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (2011–2016), khóa XIV (2016–2021) và khóa XV (2021–2026, tính đến kỳ họp thứ 5 tháng 5/2023), cùng Báo cáo số 1182 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ giai đoạn 2005–2019.
Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý, dựa trên các nền tảng lý luận, pháp luật thực định và phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật học:
- Khung lý thuyết và tư tưởng: Tác giả tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết phân quyền và khế ước xã hội (trích dẫn quan điểm của Jean-Jacques Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, tư tưởng của Charles-Louis Montesquieu trong Tinh thần pháp luật); quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật; các quan điểm, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Văn kiện Đại hội XIII, Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Nghị quyết số 18-NQ/TW về đất đai.
- Cơ sở pháp lý thực định:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 4, Điều 84 quy định thẩm quyền trình dự án luật).
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (BHVBQPPL) năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (các quy định từ Điều 31 đến Điều 79 quy định quy trình lập đề nghị và soạn thảo dự án luật).
- Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật BHVBQPPL và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung.
- Quyết định số 1598/QĐ-BTP ngày 08/7/2014 và Quyết định số 2410/QĐ-BTP ngày 23/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; Quyết định số 331/QĐ-VPCP ngày 19/4/2019 của Văn phòng Chính phủ ban hành Quy chế thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản tại Văn phòng Chính phủ.
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn tài liệu.
- Nguồn dữ liệu: Các văn bản quy phạm pháp luật; các công trình nghiên cứu chuyên khảo (sách của GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, luận án của TS. Hoàng Văn Tú, TS. Trần Hồng Nguyên, luận văn của ThS. Nguyễn Thị Minh Thư); báo cáo thống kê chính thức của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và hồ sơ các dự án luật cụ thể (Luật Đất đai sửa đổi, Bộ luật Lao động 2019, Luật Cạnh tranh, Luật Công chứng, Bộ luật Hình sự 2015...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật
Chương 1 xây dựng khung khái niệm và phân tích các yếu tố chi phối trách nhiệm của Chính phủ:
- Khái niệm và bản chất: Trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật được xác định là nghĩa vụ pháp lý mà Chính phủ phải thực hiện trong một trình tự nghiêm ngặt do Hiến pháp và Luật BHVBQPPL điều chỉnh, bao gồm các giai đoạn từ lập chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, trình dự án luật trước Quốc hội.
- Nội dung trách nhiệm pháp lý:
- Đối với dự án luật do Chính phủ trình: Gồm giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật (tổng kết thi hành pháp luật, đánh giá tác động của chính sách - RIA, lấy ý kiến công chúng và đối tượng tác động ít nhất 30 ngày trên Cổng thông tin điện tử, thẩm định tại Bộ Tư pháp trong 20 ngày, hoàn thiện hồ sơ trình UBTVQH) và giai đoạn soạn thảo dự án luật (thành lập Ban soạn thảo có ít nhất 09 thành viên và Tổ biên tập, lấy ý kiến dự thảo, Bộ Tư pháp tổ chức thẩm định, Văn phòng Chính phủ thẩm tra độc lập theo Quyết định 331/QĐ-VPCP, Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết đa số trước khi trình Quốc hội).
- Đối với dự án luật không do Chính phủ trình: Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản (thời hạn 30 ngày đối với đề nghị xây dựng luật và 20 ngày đối với dự án luật).
- Các yếu tố ảnh hưởng: Khóa luận phân tích 4 nhóm yếu tố chi phối: (1) Yếu tố chính trị, chính sách (sự lãnh đạo của Đảng và yêu cầu thể chế hóa chủ trương); (2) Yếu tố hệ thống pháp luật (tính đồng bộ, chặt chẽ của các quy định pháp luật về lập pháp); (3) Yếu tố thực trạng kinh tế (tính đến hết năm 2022, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam xếp hạng 135 trên thế giới, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập WTO, đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp lý linh hoạt); (4) Yếu tố xã hội (dư luận xã hội và nhu cầu thực tiễn của nhân dân).
Chương 2: Thực trạng về trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 đánh giá thực trạng kết quả đạt được, những điểm nghẽn và nguyên nhân:
- Kết quả đạt được:
- Chính phủ giữ vai trò chủ lực trong hoạt động lập pháp của Quốc hội. Tỷ lệ dự án luật do Chính phủ trình chiếm đại đa số qua các khóa:
| Nhiệm kỳ Quốc hội |
Tổng số luật được thông qua |
Số luật do Chính phủ trình |
Tỷ lệ do Chính phủ trình (%) |
Số luật do chủ thể khác trình |
Tỷ lệ chủ thể khác trình (%) |
| Khóa XIII (2011–2016) |
106 |
94 |
88,6% |
12 |
11,4% |
| Khóa XIV (2016–2021) |
72 |
67 |
93,0% |
5 |
7,0% |
| Khóa XV (đến kỳ họp thứ 5, 5/2023) |
19 |
18 |
95,0% |
1 |
5,0% |
-
Theo Báo cáo số 1182 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ giai đoạn từ ngày 24/5/2005 đến ngày 30/6/2019, Chính phủ đã trình Quốc hội 269 dự án luật; trong đó có 257 dự án được thông qua, 03 dự án không được thông qua và 05 dự án được Chính phủ rút khỏi chương trình.
-
Hàng năm, Bộ Tư pháp chủ trì thẩm định khoảng 400 dự thảo VBQPPL (trong đó có 30–40 dự án luật).
-
Hoạt động tiếp thu, chỉnh lý có chuyển biến tích cực: dự án Luật Cạnh tranh tiếp thu 23/28 ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; dự án Luật Đất đai (sửa đổi) tiếp thu ý kiến mở rộng đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp theo Nghị quyết 18-NQ/TW; dự án Luật Công chứng (sửa đổi) tiếp thu đề xuất của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam theo Nghị quyết 172/NQ-CP.
-
Hạn chế và bất cập:
- Giai đoạn lập chương trình: Tình trạng cài cắm lợi ích ngành; dự án thiếu tính cần thiết nhưng vẫn đề xuất (ví dụ: dự án Luật Đăng ký bất động sản phải dừng lại sau khi UBTVQH thẩm tra); chương trình liên tục bị thay đổi, xin lùi hoặc bổ sung gấp (như Luật Căn cước công dân, Luật các Tổ chức tín dụng; Luật Đất đai sửa đổi phải xin lùi đến lần thứ tư); tờ trình đề nghị sơ sài (như tờ trình dự án Luật Biểu tình do Bộ Công an lập chỉ gồm 5 chương khái quát); nhiều chính sách quan trọng không được xác định rõ từ khâu lập đề nghị mà phát sinh muộn ở khâu soạn thảo hoặc sau khi Quốc hội cho ý kiến.
| Tên dự án luật |
Chính sách phát sinh trong giai đoạn soạn thảo |
Chính sách phát sinh sau khi Quốc hội cho ý kiến lần thứ nhất |
| Luật Xử lý vi phạm hành chính |
Tư pháp hóa một số biện pháp xử lý hành chính có khả năng gây tổn hại tới quyền tự do của con người |
Tăng mức phạt tiền đối với tổ chức so với cá nhân có cùng hành vi vi phạm |
| Luật An toàn thực phẩm |
Tăng cường thiết chế thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm |
Chuyển hoạt động quản lý an toàn thực phẩm sang cơ chế quản lý theo nhóm sản phẩm |
-
Giai đoạn soạn thảo: Ban soạn thảo (BST) hoạt động hình thức, kiêm nhiệm; lãnh đạo bộ, cấp vụ không có đủ thời gian chuyên tâm; mô hình phân tán theo từng bộ dẫn đến nguy cơ cục bộ ngành; lấy ý kiến công chúng trên Cổng thông tin điện tử đạt hiệu quả thấp; đánh giá tác động RIA mang tính hình thức; sự cố hoãn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Nghị quyết số 14/2016/QH13 do phát hiện khoảng 50 lỗi kỹ thuật và nội dung; khảo sát cho thấy 67% ý kiến nhận định quy trình thẩm định tại Bộ Tư pháp còn khép kín, một số báo cáo thẩm định nhận xét chung chung (Báo cáo số 31/BC-BTP); thời gian họp Chính phủ thảo luận luật bị giới hạn (2–3 ngày/phiên, phải xử lý 3–5 dự án luật); cơ chế UBTVQH chủ trì tiếp thu, chỉnh lý sau kỳ họp đầu làm mờ nhạt trách nhiệm bảo vệ dự án của Chính phủ.
-
Nguyên nhân của hạn chế: Tác giả phân tích 6 nguyên nhân chính: (1) Quy định chương trình xây dựng luật hàng năm của Quốc hội làm giảm tính linh hoạt; (2) Hoạch định chính sách chưa tốt, còn tình trạng "vừa thiết kế vừa thi công"; (3) Tổ chức của BST thiếu tính chuyên trách, kiêm nhiệm, cán bộ thiếu kỹ năng soạn thảo lập pháp chuyên sâu; (4) Nhận thức về trách nhiệm và sự phân định quyền hạn giữa Chính phủ và Quốc hội chưa rõ ràng, phát sinh tâm lý phó mặc cho UBTVQH; (5) Cơ chế phối hợp liên ngành thiếu chặt chẽ; (6) Trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng và thành viên Chính phủ đôi lúc chưa được phát huy tối đa do áp lực công tác điều hành tổng thể.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay
Dựa trên các nguyên nhân đã phân tích, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm 9 nhóm:
- 3.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật: Rà soát, sửa đổi Luật BHVBQPPL nhằm làm rõ quy trình, tiêu chí đánh giá và trách nhiệm pháp lý trong từng khâu.
- 3.2. Mở rộng phạm vi thẩm quyền của Chính phủ: Tăng cường quyền chủ động cho cơ quan hành pháp trong việc đề xuất và điều chỉnh chương trình lập pháp phù hợp với biến động thực tiễn.
- 3.3. Nâng cao hiệu quả hoạch định chính sách: Thực hiện nghiêm túc, thực chất việc đánh giá tác động của chính sách (RIA) ngay từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật.
- 3.4. Đổi mới tổ chức, cơ cấu hoạt động của Chính phủ:
- Mô hình cơ quan soạn thảo: Bổ sung quy định đổi mới mô hình soạn thảo theo hướng thành lập cơ quan soạn thảo độc lập, chuyên trách, thay thế cho mô hình Ban soạn thảo kiêm nhiệm, tạm thời hiện nay.
- Cải tiến quy trình làm việc: Bố trí thời lượng thỏa đáng trong các phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật.
- 3.5. Đổi mới mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội: Xác định rõ Chính phủ là chủ thể chủ trì giải trình, bảo vệ dự án luật xuyên suốt đến khi Quốc hội biểu quyết thông qua, tránh việc chuyển giao hoàn toàn quyền chủ trì tiếp thu cho cơ quan của Quốc hội.
- 3.6. Tăng cường sự phối hợp liên ngành: Thiết lập cơ chế phối hợp bắt buộc, gắn trách nhiệm giải trình và xử lý kỷ luật đối với các cơ quan chậm trễ, đùn đẩy trách nhiệm.
- 3.7. Phát huy trách nhiệm của Thủ tướng và các thành viên Chính phủ: Đề cao trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng, Trưởng ngành đối với chất lượng và tiến độ các dự án luật được phân công.
- 3.8. Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ soạn thảo: Đào tạo bài bản, chuyên sâu kỹ năng phân tích chính sách và kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ pháp chế.
- 3.9. Bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất: Tăng cường nguồn lực tài chính, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, khảo sát và lấy ý kiến nhân dân.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa các căn cứ lý luận và pháp lý về thẩm quyền lập pháp của Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng xây dựng luật của Chính phủ giai đoạn 2005–2023 với các số liệu cụ thể: tỷ trọng dự án luật do Chính phủ trình luôn đạt từ 88,6% đến 95%; tổng kết 269 dự án luật giai đoạn 2005–2019; phân tích dữ liệu thẩm định 400 dự thảo VBQPPL/năm của Bộ Tư pháp.
- Phát hiện và chỉ rõ các "điểm nghẽn" thực tế: hiện tượng cài cắm chính sách ngành, tình trạng "vừa thiết kế vừa thi công", tỷ lệ 67% ý kiến đánh giá thẩm định còn hình thức, và hạn chế của mô hình Ban soạn thảo kiêm nhiệm.
- Giải pháp và kiến nghị cốt lõi:
- Kiến nghị chuyển đổi mô hình Ban soạn thảo kiêm nhiệm, liên ngành sang mô hình cơ quan soạn thảo chuyên trách, độc lập.
- Kiến nghị thay đổi cơ chế tiếp thu, chỉnh lý dự thảo tại Quốc hội theo hướng giữ nguyên vai trò chủ trì giải trình và bảo vệ dự án luật của Chính phủ cho đến giai đoạn thông qua cuối cùng.
- Đóng góp khoa học: So với các nghiên cứu trước đây (thường chỉ tập trung vào quy trình lập pháp tổng thể của Quốc hội hoặc hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết của Chính phủ), công trình này đi sâu phân tích trực diện và có hệ thống về trách nhiệm pháp lý và thực tiễn của Chính phủ trong toàn bộ các công đoạn của quy trình xây dựng luật, từ khâu khởi xướng chính sách đến khâu bảo vệ dự án trước Quốc hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng các đạo luật (văn bản do Quốc hội ban hành), chưa mở rộng phân tích sâu trách nhiệm lập quy đối với các văn bản dưới luật (Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng). Bên cạnh đó, số liệu thực tiễn của Quốc hội khóa XV mới chỉ cập nhật đến kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2023).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung; nghiên cứu so sánh kinh nghiệm xây dựng luật của cơ quan hành pháp tại các quốc gia theo mô hình đại nghị và tổng thống để hoàn thiện mô hình cơ quan soạn thảo chuyên trách tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính khi nghiên cứu về quy trình lập pháp và tổ chức bộ máy nhà nước.
- Cán bộ, chuyên viên pháp chế tại các bộ, cơ quan ngang bộ và Văn phòng Chính phủ: Tham khảo các phân tích thực trạng về kỹ năng xây dựng hồ sơ đề nghị, báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) và báo cáo thẩm định.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Mục phân tích quy trình lập đề nghị và đánh giá tác động chính sách (Chương 1 và 2).
- Bảng tổng hợp thực tiễn phát sinh chính sách ngoài hồ sơ đề nghị tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật An toàn thực phẩm (Chương 2).
- Đề xuất mô hình cơ quan soạn thảo độc lập, chuyên trách (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ các dự án luật do Chính phủ trình Quốc hội qua các nhiệm kỳ gần đây là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận: Quốc hội khóa XIII (2011–2016) Chính phủ trình 94/106 dự án luật (chiếm 88,6%); Quốc hội khóa XIV (2016–2021) Chính phủ trình 67/72 dự án luật (chiếm 93,0%); Quốc hội khóa XV (tính đến kỳ họp thứ 5, tháng 5/2023) Chính phủ trình 18/19 dự án luật (chiếm 95,0%).
2. Khóa luận chỉ ra hạn chế lớn nhất trong mô hình tổ chức Ban soạn thảo dự án luật hiện nay là gì?
Bất cập lớn nhất là tính chất kiêm nhiệm, tạm thời và thiếu chuyên trách. Thành viên Ban soạn thảo chủ yếu là lãnh đạo cấp Vụ trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng có rất ít thời gian làm công tác chuyên môn soạn thảo, dẫn đến nhiều phiên họp bị giao khoán cho Tổ biên tập. Đồng thời, mô hình cơ quan soạn thảo phân tán theo từng bộ dễ làm nảy sinh tư tưởng cục bộ, đưa các quy định có lợi cho ngành vào dự thảo.
3. Sự cố lập pháp nào được tác giả dẫn chứng minh họa cho hạn chế trong chất lượng soạn thảo luật của Chính phủ?
Đó là sự kiện Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải ban hành Nghị quyết số 14/2016/QH13 hoãn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 do Chính phủ trình vì phát hiện có khoảng 50 lỗi kỹ thuật và nội dung, kéo theo việc phải tạm hoãn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tạm giữ, tạm giam và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
4. Khóa luận đánh giá như thế nào về cơ chế tiếp thu, chỉnh lý dự án luật giữa Chính phủ và Quốc hội hiện nay?
Tác giả chỉ ra rằng khi dự án luật được chuyển sang Quốc hội sau kỳ họp đầu tiên, trách nhiệm chủ trì tiếp thu, chỉnh lý được chuyển giao cho các cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan thẩm tra chủ trì). Việc này làm mờ nhạt vai trò, tính chủ động và trách nhiệm chính trị của Chính phủ, khiến dự án luật của Chính phủ trở thành "dự án luật của Quốc hội", dẫn đến tâm lý phó mặc từ phía cơ quan trình.
5. Tác giả đề xuất giải pháp gì đối với mô hình cơ quan soạn thảo luật?
Tác giả đề xuất đổi mới mô hình theo hướng thành lập cơ quan soạn thảo độc lập, chuyên trách, tập trung đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản, chuyên sâu về phân tích chính sách và kỹ thuật lập pháp nhằm khắc phục sự phân tán, lãng phí kinh phí và tính cục bộ ngành của các Ban soạn thảo kiêm nhiệm hiện nay.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đặng Văn Trường đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay. Bằng việc phân tích số liệu thực tế qua nhiều nhiệm kỳ Quốc hội và giai đoạn 2005–2023, tác giả đã chỉ ra những thành tựu chủ đạo cũng như các tồn tại cơ bản trong từng giai đoạn lập đề nghị, soạn thảo và thẩm định dự án luật. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng 9 nhóm giải pháp đồng bộ, trọng tâm là đổi mới mô hình cơ quan soạn thảo chuyên trách và làm rõ vị thế chủ trì giải trình của Chính phủ, đóng góp tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác hoàn thiện thể chế lập pháp tại Việt Nam.