Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thủy thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Hồng Anh, thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp (mã số: 60 38 01 02).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Để thực hiện các chức năng này, bên cạnh hình thức văn bản luật, Quốc hội sử dụng rộng rãi hình thức nghị quyết. Tuy nhiên, quy trình và thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội còn bộc lộ bất cập: hệ thống quy định chưa thực sự đồng bộ; còn tồn tại các nhận thức và quan điểm khác nhau về tính chất pháp lý cũng như nội dung của nghị quyết; công tác tham mưu cho Quốc hội ban hành nghị quyết chưa kịp thời. Trong khi các công trình khoa học trước đây chủ yếu tập trung vào hoạt động lập pháp và quy trình ban hành luật, vấn đề quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện quy trình, thủ tục này là yêu cầu cấp thiết.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội làm cơ sở đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ cụ thể):

    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghị quyết (khái niệm, đặc điểm, phân loại nghị quyết) và kinh nghiệm ban hành nghị quyết của nghị viện một số nước trên thế giới.
    2. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội (khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yêu cầu đặt ra).
    3. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta; chỉ ra các hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
    4. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội.
  • Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

    • Câu hỏi chính: Tại sao cần có sự rõ ràng về tính chất pháp lý của nghị quyết? Việc ban hành nghị quyết của Quốc hội đang thực hiện theo quy trình, thủ tục nào và có phải là quy trình lập pháp hay không?
    • Giả thuyết nghiên cứu:
      1. Quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết đóng vai trò quan trọng đối với việc bảo đảm tính minh bạch, dân chủ, từ đó bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
      2. Các quy định pháp luật hiện hành (đặc biệt trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015) chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nâng cao chất lượng nghị quyết nói riêng và hoạt động của Quốc hội nói chung, do đó cần phải được sửa đổi, bổ sung.
      3. Việc sửa đổi, bổ sung quy định về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết được đặt trong bối cảnh đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta (bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn về nghị quyết và quy trình, thủ tục ban hành).
    • Phạm vi nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta từ khi ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đến Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nội quy kỳ họp Quốc hội (ban hành kèm theo Nghị quyết số 07/2002/QH11 ngày 16/12/2002 và Nghị quyết số 102/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của Quốc hội).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:

  1. Các công trình nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Quốc hội:

    • Đề tài cấp Bộ của TS. Ngô Đức Mạnh về cơ sở lý luận và thực tiễn vị trí, vai trò, quyền hạn của Quốc hội.
    • Công trình Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền của PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2007) xác định Hiến pháp, luật và nghị quyết đều là những quyết định của Quốc hội, đòi hỏi sự tương thích giữa nội dung và hình thức.
    • Bài viết của Đinh Xuân Thảo (2011) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật về đổi mới hoạt động lập pháp.
    • Giáo trình, sách chuyên khảo dịch thuật và tham khảo quốc tế: Soạn thảo luật pháp và tiến bộ xã hội dân chủ của Robert B. Seidman và Ann Seidman (bản dịch 2003); cuốn Quốc hội Mỹ hoạt động như thế nào của Trung tâm Nghiên cứu Bắc Mỹ (2003); cuốn Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước trên thế giới của TS. Nguyễn Sĩ Dũng và Hoàng Minh Hiếu (2014); công trình của GS.TS. Trần Ngọc Đường (2008) về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ; cuốn sách của Phan Trung Lý (2010); Kỷ yếu hội thảo của Viện Nghiên cứu Lập pháp và Quỹ Rosa Luxemburg (2014); luận án tiến sĩ của Lê Thanh Vân (2003) và Trần Hồng Nguyên (2007).
  2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nghị quyết của Quốc hội:

    • Đề tài cấp Bộ do GS.TS. Hồ Trọng Ngũ chủ nhiệm về cơ chế Đảng lãnh đạo Quốc hội trong hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng.
    • Sách chuyên khảo Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và thực hiện nghị quyết của Quốc hội của PGS.TS. Vũ Hồng Anh (2013) phân tích tính pháp lý, hiệu lực, phân loại nghị quyết và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện.
    • Bài viết của TS. Hoàng Thị Ngân về Tính chất, nội dung nghị quyết của Quốc hội trong mối tương quan với luật.
    • Bài viết Nghị quyết của Quốc hội là văn bản Luật hay văn bản dưới luật của Phan Trung Hiền (2011) trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.
  3. Các công trình nghiên cứu về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết và hoạt động của Quốc hội:

    • Sách Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội của Vũ Mão (2004).
    • Đề tài nghiên cứu khoa học của TS. Ngô Đức Mạnh (2007-2009) và bài viết về hoàn thiện quy trình làm việc tại kỳ họp.
    • Nghiên cứu của TS. Hoàng Văn Tú (2011) về vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết.
    • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quốc Thắng (2001) về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
    • Sách chuyên khảo Quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội do Đặng Văn Chiến chủ biên (2005) của Ban Công tác Lập pháp; báo cáo của TS. Hoàng Ngọc Giao (2008); sách của Phan Trung Lý về văn bản quy phạm pháp luật và quy trình ban hành; bài viết của Vũ Hồng Anh về phiên họp toàn thể; đề tài cấp Bộ của Lê Như Tiến về nghị quyết kinh tế - xã hội hàng năm; báo cáo của Viện Nghiên cứu Lập pháp về quy trình Quốc hội xem xét thông qua và giám sát thực hiện nghị quyết.
    • Tài liệu nước ngoài: Công trình của Jacob E. Gersen và Eric A. Posner (2008) về "Soft Law" và thực tiễn nghị viện; bài viết của Jim Jarrase (2010); tài liệu của Nel M. (2016) về quy trình ngân sách liên bang Hoa Kỳ.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận quy trình lập pháp nói chung hoặc chỉ khảo sát một loại nghị quyết cụ thể (như nghị quyết về kinh tế - xã hội) mà chưa phân định rành mạch giữa nghị quyết quy phạm pháp luật và nghị quyết áp dụng pháp luật; chưa đánh giá toàn diện hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết và chưa xây dựng được hệ thống giải pháp tổng thể cho quy trình ban hành tất cả các loại nghị quyết của Quốc hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

    • Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
    • Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
    • Các nguyên lý từ trường phái xã hội học pháp luật và kinh tế học pháp luật, nhấn mạnh tính khoa học, hiệu lực, hiệu quả và lợi ích của nhân dân trong quá trình ban hành chính sách.
  • Phương pháp tiếp cận:

    • Tiếp cận chức năng: Làm sáng tỏ chức năng, thẩm quyền của Quốc hội để phân định nội dung, tính chất các loại nghị quyết.
    • Tiếp cận hệ thống: Đặt quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết trong mối tương quan chỉnh thể với luật và toàn bộ hệ thống pháp luật.
    • Tiếp cận liên ngành: Kết hợp khoa học luật hiến pháp với luật hành chính, lý luận nhà nước và pháp luật, triết học và hành chính học.
    • Tiếp cận lịch sử: Xem xét sự phát triển của các quy định pháp luật qua các thời kỳ lập hiến và lập pháp tại Việt Nam.
    • Tiếp cận luật so sánh: Đối chiếu quy định về luật và nghị quyết trong nước, so sánh kinh nghiệm lập pháp và ban hành nghị quyết của nghị viện một số quốc gia.
  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các văn kiện của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật sơ cấp và các bài báo, tạp chí chuyên ngành thứ cấp; tổng hợp các luận điểm khoa học.
    • Phương pháp mô tả và phân tích quy phạm: Đánh giá cấu trúc quy phạm, thẩm quyền, trình tự pháp lý trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, năm 2015 và Nội quy kỳ họp Quốc hội.
    • Phương pháp chuyên gia: Tác giả phỏng vấn, trao đổi trực tiếp, gọi điện thoại và gửi thư điện tử lấy ý kiến các nhà khoa học và nhà hoạt động thực tiễn: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, GS.TS. Thái Vĩnh Thắng, PGS.TS. Tô Văn Hòa, PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan, nguyên lãnh đạo cơ quan của Quốc hội (ông Phan Trung Lý, ông Đặng Đình Luyến, ông Lương Phan Cừ, ông Nguyễn Sĩ Dũng, ông Vũ Hồng Anh) và các đại biểu Quốc hội (bà Trần Hồng Nguyên, ông Nguyễn Văn Lợi, bà Tôn Ngọc Hạnh).
  • Nguồn tư liệu/dữ liệu: Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng; Hiến pháp năm 2013; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và năm 2015; Nội quy kỳ họp Quốc hội (2002 và 2015); các nghị quyết cụ thể của Quốc hội (Nghị quyết số 55/2010/QH12, Nghị quyết số 28/2016/QH14, Nghị quyết số 106/2015/QH13, Nghị quyết số 23/2016/QH14, Nghị quyết số 142/2016/QH13) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

  • Đánh giá có hệ thống 3 nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến chức năng Quốc hội, hoạt động ban hành nghị quyết và quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội.
  • Chỉ ra các nội dung kế thừa: Cơ sở lý luận về tính chất nghị quyết, quy trình xem xét thông qua tại kỳ họp.
  • Xác định rõ khoảng trống khoa học: Chưa có công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta. Xác lập các câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và 5 hướng tiếp cận của đề tài.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH THỦ TỤC BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT QUỐC HỘI

  • Khái niệm và đặc điểm nghị quyết của Quốc hội: Phân tích định nghĩa ngôn ngữ và pháp lý; khẳng định nghị quyết là hình thức văn bản chứa đựng quyết định chính thức của Quốc hội để thực hiện thẩm quyền hiến định.
  • Phân loại nghị quyết của Quốc hội: Luận án chia nghị quyết thành 2 nhóm chính dựa trên tính chất pháp lý và nội dung:
    1. Nghị quyết quy phạm pháp luật (QPPL): Chứa đựng quy tắc xử sự chung, áp dụng nhiều lần, có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hoặc địa phương cụ thể.
    2. Nghị quyết áp dụng pháp luật (ADPL): Chứa mệnh lệnh cụ thể, tác động trực tiếp đến đối tượng xác định, áp dụng một lần (về nhân sự, chia tách địa giới hành chính, phê chuẩn điều ước quốc tế, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội...).
  • So sánh giữa Luật và Nghị quyết của Quốc hội:
Tiêu chí Luật của Quốc hội Nghị quyết quy phạm pháp luật Nghị quyết áp dụng pháp luật
Bản chất văn bản Luôn là văn bản quy phạm pháp luật Là văn bản quy phạm pháp luật Là văn bản áp dụng pháp luật (cá biệt/chủ đạo)
Quy trình ban hành Tuân thủ quy trình lập pháp Tuân thủ quy trình lập pháp (thông thường hoặc rút gọn) Theo quy trình, thủ tục riêng (chưa được luật hóa đầy đủ)
Nội dung/Mục đích Chỉ dùng để quy định các vấn đề cơ bản Vừa quy định, vừa quyết định (thí điểm chính sách, tạm ngưng luật...) Dùng để quyết định các vấn đề sự vụ, nhân sự, kế hoạch cụ thể
Cấu trúc kỹ thuật Bố cục chặt chẽ theo phần, chương, điều, khoản, điểm Bố cục theo điều, khoản, điểm; có thể có kết cấu QPPL Thể hiện dưới dạng nghị luận, phân công nhiệm vụ, không theo cấu trúc QPPL
Thời hạn hiệu lực Thường lâu dài, không ấn định thời điểm chấm dứt Thường xác định trong một khoảng thời gian cụ thể Chấm dứt sau khi hoàn thành sự vụ hoặc hết kỳ kế hoạch
  • Khái niệm và đặc điểm quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết: Xác định đây là toàn bộ các bước, trình tự pháp lý mà Quốc hội và các cơ quan hữu quan phải tuân thủ. Quy trình này là một dạng quy trình lập pháp đặc thù và có tính đa dạng cao tùy thuộc vào loại nghị quyết.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu hoạt động ban hành nghị quyết của nghị viện một số nước (như Hoa Kỳ, Pháp, Đức...) để rút ra các bài học về tính linh hoạt, kỹ thuật lập quy và sự phân định giá trị pháp lý giữa luật và nghị quyết.

Chương 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH, THỦ TỤC BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI NƯỚC TA

  • Thực trạng quy định pháp luật: Phân tích các bước trong quy trình ban hành nghị quyết QPPL theo thủ tục thông thường (lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, UBTVQH cho ý kiến, Quốc hội thảo luận và biểu quyết thông qua, công bố) và thủ tục rút gọn theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và 2015; quy trình ban hành nghị quyết ADPL theo Nội quy kỳ họp Quốc hội.
  • Kết quả đạt được: Pháp luật từng bước chuẩn hóa các giai đoạn ban hành nghị quyết; phân định rõ hơn thẩm quyền ban hành giữa luật và nghị quyết; bảo đảm sự tham gia của các cơ quan chuyên môn và đại biểu Quốc hội.
  • Hạn chế, bất cập và nguyên nhân:
    • Quy định về tính chất pháp lý và phạm vi ban hành nghị quyết còn thiếu rõ ràng, dẫn đến việc lạm dụng nghị quyết để điều chỉnh các quan hệ xã hội vốn thuộc phạm vi của luật.
    • Quy trình ban hành nghị quyết ADPL chưa được luật hóa đồng bộ trong một văn bản luật thống nhất mà phân tán ở nhiều văn bản.
    • Chất lượng thẩm tra, công tác đánh giá tác động chính sách đối với các dự thảo nghị quyết thí điểm còn hạn chế; thời gian gửi tài liệu cho đại biểu nghiên cứu còn chậm.

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH, THỦ TỤC BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI NƯỚC TA

  • Hệ thống 6 quan điểm chỉ đạo:
    1. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết tiến hành đồng thời với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
    2. Đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
    3. Góp phần nâng cao giá trị pháp lý của nghị quyết.
    4. Bảo đảm nâng cao chất lượng nội dung nghị quyết.
    5. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với xu thế quốc tế.
    6. Bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội.
  • Hệ thống 6 nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện quy định về thẩm quyền ban hành nghị quyết; phân định rõ ranh giới nội dung giữa nghị quyết với luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
    2. Hoàn thiện quy định về tính chất pháp lý và thể thức của từng loại nghị quyết (QPPL và ADPL).
    3. Tăng cường và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy trình (cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm tra, UBTVQH và đại biểu Quốc hội).
    4. Hoàn thiện từng bước kỹ thuật trong quy trình: Lập đề nghị xây dựng nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, lấy ý kiến chuyên gia/nhân dân, thẩm tra phản biện và công bố đăng công báo.
    5. Nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc xây dựng văn bản luật riêng điều chỉnh các văn bản áp dụng pháp luật, văn bản chủ đạo.
    6. Nghiên cứu xây dựng luật điều chỉnh riêng quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết sửa đổi Hiến pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nghị quyết của Quốc hội; phân định rõ ranh giới về nội dung, tính chất pháp lý và kỹ thuật thể hiện giữa nghị quyết quy phạm pháp luật và nghị quyết áp dụng pháp luật trong mối tương quan với luật.
    • Luận giải bản chất quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội như một quy trình lập pháp đặc thù có tính đa dạng, đòi hỏi các thủ tục tương thích với từng loại nghị quyết thay vì áp dụng một quy trình duy nhất.
    • Bổ sung lý luận về các khâu cấu thành quy trình: Đánh giá tác động chính sách, thẩm định, thẩm tra, lấy ý kiến và công bố nghị quyết.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp:

    • Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật từ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, năm 2015 đến các Nội quy kỳ họp Quốc hội, chỉ rõ các điểm nghẽn trong việc áp dụng quy trình rút gọn và ban hành nghị quyết áp dụng pháp luật.
    • Đề xuất lộ trình và giải pháp sửa đổi cụ thể cho hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm: Hoàn thiện quy định về thẩm quyền; nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra; kiến nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nghiên cứu xây dựng luật riêng về quy trình ban hành nghị quyết sửa đổi Hiến pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Luận án tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp lý - thể chế của quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn từ Luật năm 2008 đến Luật năm 2015; nguồn dữ liệu khảo cứu thực tế tại thời điểm nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các kỳ họp Quốc hội khóa XII, XIII và đầu khóa XIV.
    • Chưa đi sâu phân tích toàn diện số liệu thống kê định lượng về tất cả các nghị quyết cá biệt của các khóa Quốc hội trước thời kỳ đổi mới do giới hạn phạm vi đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các Ủy ban của Quốc hội và các Bộ, ngành trong quy trình thẩm tra dự thảo nghị quyết.
    • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp đối với các nghị quyết thí điểm chính sách kinh tế - xã hội khi triển khai trong thực tiễn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật: Cung cấp khung lý thuyết và nguồn tài liệu tham khảo có giá trị về Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Lý luận về Nhà nước và Pháp luật.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu luật học: Sử dụng làm giáo trình chuyên đề về tổ chức hoạt động của Quốc hội và kỹ thuật lập pháp, lập quy.
    • Cán bộ tham mưu, đại biểu Quốc hội, cơ quan soạn thảo chính sách: Tham khảo để nhận diện đúng loại nghị quyết, vận dụng chuẩn xác quy trình soạn thảo, thẩm tra và thông qua văn bản trên thực tế.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo:

    • Bảng so sánh và tiêu chí phân biệt giữa Luật, Nghị quyết QPPL và Nghị quyết ADPL (Chương 2).
    • Đánh giá thực trạng các bất cập trong quy trình rút gọn và thủ tục thông qua nghị quyết tại kỳ họp (Chương 3).
    • Hệ thống kiến nghị sửa đổi quy định thẩm quyền và thủ tục ban hành nghị quyết sửa đổi Hiến pháp (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân loại nghị quyết của Quốc hội thành những loại nào? Luận án phân loại nghị quyết của Quốc hội thành 2 nhóm cơ bản dựa trên nội dung và tính chất pháp lý: Nghị quyết quy phạm pháp luật (chứa quy tắc xử sự chung, áp dụng nhiều lần, có hiệu lực trên diện rộng) và Nghị quyết áp dụng pháp luật (chứa mệnh lệnh cụ thể, tác động đến đối tượng xác định, áp dụng một lần như các nghị quyết về nhân sự, ngân sách, chia tách địa giới, phê chuẩn điều ước quốc tế).

  2. Nghị quyết kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm được luận án xếp vào loại nào? Vì sao? Luận án xác định đây là Nghị quyết áp dụng pháp luật. Lý do là nội dung nghị quyết này không có kết cấu giả định - quy định - chế tài của một quy phạm pháp luật, không chia theo điều khoản điểm chuẩn tắc mà mang tính định lượng mục tiêu, đề ra nhiệm vụ, giải pháp và phân công các cơ quan tổ chức thực hiện trong một kỳ hạn xác định.

  3. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Quốc hội ban hành nghị quyết QPPL để quy định những nội dung gì? Theo Khoản 2 Điều 15 Luật năm 2015 (được luận án trích dẫn), nghị quyết QPPL của Quốc hội dùng để quy định: Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và địa phương; thực hiện thí điểm chính sách mới chưa có luật điều chỉnh hoặc khác luật hiện hành; tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng luật/nghị quyết; quy định tình trạng khẩn cấp, biện pháp đặc biệt bảo đảm quốc phòng - an ninh; đại xá; và vấn đề khác thuộc thẩm quyền.

  4. Tác giả đã phỏng vấn và trao đổi với những chuyên gia pháp lý tiêu biểu nào? Tác giả đã lấy ý kiến của các nhà khoa học: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, GS.TS. Thái Vĩnh Thắng, PGS.TS. Tô Văn Hòa, PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan; các chuyên gia hoạt động thực tiễn: ông Phan Trung Lý, ông Đặng Đình Luyến, ông Lương Phan Cừ, ông Nguyễn Sĩ Dũng, ông Vũ Hồng Anh; và các đại biểu Quốc hội: bà Trần Hồng Nguyên, ông Nguyễn Văn Lợi, bà Tôn Ngọc Hạnh.

  5. Luận án đề xuất giải pháp gì đối với quy trình ban hành nghị quyết sửa đổi Hiến pháp? Luận án kiến nghị cần nghiên cứu xây dựng một đạo luật riêng nhằm điều chỉnh cụ thể quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết sửa đổi Hiến pháp, bảo đảm tương xứng với giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp và tính chất đặc biệt của thủ tục lập hiến.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thủy là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp. Tác giả đã giải quyết thành công các vấn đề lý luận cốt lõi về phân định bản chất pháp lý của nghị quyết, đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật từ Luật năm 2008 đến Luật năm 2015. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy trình lập pháp đặc thù này, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.