Chức Năng Lập Pháp Của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Luận án thạc sĩ luật học chức năng lập pháp của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Thạc Sỹ

1998

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỨC NĂNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI VÀ VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

1.1. Sự xuất hiện của quốc hội và quyền lập pháp

1.2. Chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam và mối quan hệ của nó với các chức năng khác

2. CHƯƠNG 2: PHẠM VI VÀ TRÌNH TỰ LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

2.1. Phạm vi văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành

2.2. Trình tự lập pháp của Quốc hội

2.3. Về công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội trong thời gian qua

3. CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI VÀ TĂNG CƯỜNG CHỨC NĂNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

3.1. Yêu cầu khách quan của việc đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội

3.2. Một số nguyên tắc cơ bản của việc đổi mới hoạt động lập pháp

3.3. Các biện pháp đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chức Năng Lập Pháp Của Quốc Hội Việt Nam

Chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong hệ thống chính trị. Nó không chỉ thể hiện quyền lực của nhà nước mà còn phản ánh ý chí của nhân dân. Từ khi thành lập, Quốc hội đã đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.

1.1. Khái Niệm Về Chức Năng Lập Pháp

Chức năng lập pháp được hiểu là quyền ban hành các văn bản pháp luật, quy định các nguyên tắc và quy tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đây là một trong những quyền lực tối cao của Quốc hội.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Chức Năng Lập Pháp

Chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam đã được hình thành từ những ngày đầu của Nhà nước dân chủ nhân dân, qua các bản Hiến pháp từ 1946 đến nay, thể hiện sự phát triển và hoàn thiện không ngừng.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Hoạt Động Lập Pháp

Mặc dù Quốc hội Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong hoạt động lập pháp, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật, tính khả thi của các văn bản pháp luật vẫn đang là những vấn đề nóng bỏng.

2.1. Sự Chồng Chéo Trong Hệ Thống Pháp Luật

Nhiều văn bản pháp luật hiện hành còn chồng chéo, gây khó khăn trong việc thực thi và áp dụng. Điều này đòi hỏi Quốc hội cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục.

2.2. Tính Khả Thi Của Các Văn Bản Pháp Luật

Tính khả thi của các văn bản pháp luật là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của hoạt động lập pháp. Quốc hội cần đảm bảo rằng các quy định pháp luật được ban hành phải phù hợp với thực tiễn và có thể thực thi được.

III. Phương Pháp Đổi Mới Hoạt Động Lập Pháp Của Quốc Hội

Để nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, Quốc hội Việt Nam cần áp dụng các phương pháp đổi mới. Việc cải cách quy trình lập pháp, tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội là rất cần thiết.

3.1. Cải Cách Quy Trình Lập Pháp

Cải cách quy trình lập pháp nhằm rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật. Quốc hội cần xây dựng quy trình rõ ràng và minh bạch hơn.

3.2. Tăng Cường Sự Tham Gia Của Người Dân

Sự tham gia của người dân trong quá trình lập pháp sẽ giúp Quốc hội hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của xã hội, từ đó xây dựng các văn bản pháp luật phù hợp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chức Năng Lập Pháp

Chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc ban hành luật mà còn có tác động lớn đến đời sống xã hội. Các văn bản pháp luật được ban hành đã góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi của người dân.

4.1. Tác Động Đến Kinh Tế

Các quy định pháp luật do Quốc hội ban hành đã tạo ra khung pháp lý cho các hoạt động kinh tế, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường.

4.2. Bảo Vệ Quyền Lợi Của Người Dân

Chức năng lập pháp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.

V. Kết Luận Về Vai Trò Của Quốc Hội Trong Lập Pháp

Chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của đất nước. Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và phát triển.

5.1. Tương Lai Của Chức Năng Lập Pháp

Trong tương lai, Quốc hội cần tiếp tục hoàn thiện chức năng lập pháp, đảm bảo rằng các văn bản pháp luật được ban hành phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội.

5.2. Định Hướng Đổi Mới Hoạt Động Lập Pháp

Định hướng đổi mới hoạt động lập pháp cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng và tính khả thi của các văn bản pháp luật, đồng thời tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình này.

28/05/2025
Luận án thạc sĩ luật học chức năng lập pháp của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Chức năng lập pháp của Quốc hội và vi trí vai trò của nó trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam. - Chương II: Phạm vi và trình tự lập pháp của Quốc hội. - Chương III: Đổi mới và tăng cường chức năng lập pháp của Quốc hội. CHƯCNG | CHỨC NĂNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI VÀ VỊ TRÍ VAI TRO CUA NO TRONG HOẠT ĐỘNG CUA QUOC HOI VIET NAM.

SỰ XUẤT HIEN CUA QUỐC HỘI VA QUYỂN LAP PHÁP. Quyên lập pháp ra đời gắn liền nguyên tắc phân quyền, nếu gọi đầy đủ là nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước. Một trong những nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước. Nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở của thuyết phân quyền -một trong những học thuyết chính trị - pháp lý tiến bộ.

Người ta thường gắn thuyết phân quyền với tên tuổi của Montesquieu - một nhà tư tưởng nổi tiếng của Pháp thế kỷ XVII. Tuy nhiên, Montesquieu chỉ là người có công phát triển học thuyết này ở mức độ cao, còn bản thân. nó đã có mầm mống từ rất xa xưa trong lịch sử. Quan điểm của những người xây dựng học thuyết phân quyền khẳng định: quyền lực nhà nước phải được phân chia thành những loại quyền lực khác nhau và do các cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ.

Giữa các tác giả có cách đặt tên cho các loại quyền lực khác nhau, song đều thống nhất một quan điểm: quyền lập pháp phải do một cơ quan bao gồm nhiều người xây dựng lên, cơ quan có quyền lập pháp không thực thi quyền hành pháp và tư pháp. Quyền lập pháp về bản chất là quyền cao nhất trong các loại quyền lực. Montesquieu khẳng định rằng: quyền lập pháp do ban chất của nó thuộc về toàn thể dân chúng, “quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, còn quyền hành pháp thì thực hiện ý chí chung đóZool A. Montesquieu-Tinh than pháp luật.

NXB GD và Khoa Luật - Trường Đại học Khoa hoc xã hội và nhàn văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội 1996, tr 102, 104, 106. Bản dịch của nhà Sử học Hoàng Thanh Pani Theo Aristote -nhà tư tưởng lỗi lạc của Hy lạp thời cổ đại - Người khởi xướng ra tư tưởng phân quyền không đặt tên cho các quyền mà chỉ đặt tên cho các cơ quan nắm giữ. Theo ông, bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, hay còn gọi là cơ quan nghị luận; các cơ quan thực thi pháp luật hay các cơ quan chấp hành và các cơ quan toà án hay cơ quan xét xử.

John Locke (1632-1704) - một nhà tư tưởng Anh nổi tiếng của thế kỷ XVII đã kế tục và phát triển tư tưởng trên của Aristote. Trong tác phẩm “Hai chuyên luận về Chính phủ” ông phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền lập pháp, hành pháp và liên hợp. Để thực thi ba quyền có ba lĩnh vực hoạt động, linh vực lập pháp: sự quyết định chung; linh vực áp dụng luật bởi hành chính và tư pháp; lĩnh vực thứ ba là các quan hệ quốc tế. Ba lĩnh vực hoạt động này bao đảm việc lập pháp, hành pháp và việc liên hợp.

Theo Locke: quyền làm ra luật phải thuộc về quốc hội. Ngược lại, một số thành viên nào đó với số lượng hạn chế sẽ được giao áp dụng luật. Hai quyền lực sẽ khác nhau vì Quốc hội làm ra luật nhưng không thi hành luật và những người thi hành luật thì không có mặt trong quốc hội. Về vị trí của ba quyền này như Locke phân chia, ông cho rằng quyền lập pháp là tối cao, nó được duy trì mãi mãi, mặc dù có tính độc lập của các ngành chính quyền khác.

Théo ông giải thích: “Ai có thể đẻ ra luật lệ cho người khác thi phải. Chính quyền lập pháp là người lập pháp trong xã hội chỉ vì nó có quyền đề ra pháp luật cho tất cả mọi bộ phận và mọi thành viên trong xã hội, quy định cho họ các quy tắc hành vi và đủ sức trừng trị khi pháp luật bị vi phạm. Cho nên, chính quyền lập pháp phải là tối cao và các ngành chính » quyền khác với tư cách là những thành viên hoặc bộ phận đều bắt nguồn từ đó và phụ thuộc vào wó”". Quan điểm của Locke đã được Montesquieu (1689-1775) - nhà khai sáng vĩ đại của Pháp thế ky XVIII hoàn thiện va khẳng định lại.

Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, ông đã phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền với tên gọi là quyền lập pháp, hành pháp và quyền tư pháp. Quyền - Xem “Tư tường Chính trị Đông - Tay khái luận" Nguyễn Phút Tấn-Sài gòn 1977,tr 169 10 lập pháp là quyền làm luật, sửa đổi hoặc huỷ bỏ luật, giám sát việc thi hành luật. Các quyền đó do cơ quan nào nắm giữ : Montesquieu cho rằng quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia cho nên quyền lập pháp phải trao vào tay nhiều người, tức là một cơ quan, thì luật pháp mới được quy định một cách hoàn hảo. Cơ quan này không nên là toàn thể dân chúng mà chỉ nên gồm đại diện của dân chúng, do dân chúng bầu lên.

Cơ quan này phải gồm hai bộ phận : một bộ phận gồm đại biểu của quý tộc và bộ phận kia gồm đại biểu của dân chúng. Mỗi bên phải có nghị viện để thảo luận riêng. Theo ông “quyền hành pháp thì thực hiện ý chí chung” nên “quyền hành pháp phải trong tay một vị vua chúa, vì rằng quyền hành pháp luôn cần đến một hành động nhất thời, để cho một người làm thì hơn là nhiều người cùng nắm, nó khác với quyên lập pháp do nhiều người thì hơn là một người ban hanh”?. Quan điểm này của Montesquieu được áp dụng một cách trung thành vào việc tổ chức bộ máy nhà nước của nhiều quốc gia.

Ở tất cả các nhà nước hiện tại quyền lập pháp đều thuộc *ề quốc hội hay nghị viện - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, được lập ra qua phổ thông đầu phiếu. Quốc hội là cơ quan lập pháp nắm giữ toàn bộ quyền lập pháp và chỉ quyền đó mà | thôi, không tham dự vào việc thực hiện pháp luật. Lập pháp, tức là làm ra luật. sửa đổi luật và giám sát việc thi hành luât.

Luật là hình thức cao nhất củaviéc thực hiên quyền lực không chỉ vì hiệu lực của nó.mà còn vì sự uỷ quyên pháp lý. Luật được xây dựng bởi chính những đại biểu do nhân dân bầu ra, luật thể hiện ý chí của cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân vì thông qua bầu cử nhân dân đã thể hiện ý chí của mình. Nhiều khi ý chí của nhân dân còn được biểu thị một cách trực tiếp khi thông qua đạo luật cơ bản là Hiến pháp (bằng hình thức trưng cầu ý kiến nhân dân). Nếu nghị viện có tổ chức hai viện thì quyền lập pháp phải thuộc về cả hai viện.

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề về quyền lập pháp ta thấy giữa thực tiễn và lý luận có sự hoà quyện và bổ sung cho nhau. 4 Xem: "Tình thân pháp luật Montesquieu - Ban dich của Hoàng Thanh Dam - NXB Giáo Dục Hà Nội 1996, Tr 106. 11 Cùng với sự phát triển của xã hội, việc tổ chức bộ máy nhà nước cũng phát triển. Lịch sử chứng minh rằng: ngay từ thời cổ của Ai Cập, Hy Lạp, La Mã đã xuất.

hiện những nhà tư tưởng như Xôlông ( 638-559 TCN), vượt lên trên cả thời đại mà họ đang sống và đã cho rằng quyền lực nhà nước không phải ở đâu xa lạ, mà chính bắt nguồn từ những cá nhân trong cộng đồng. Tất cả những người sống trong cộng đồng không thể trực tiếp giải quyết được mọi công việc được gọi là nhà nước như bây giờ. Lúc bấy gid người đi bầu cử và những người được bầu cử đều phải là những người có của hoặc phải là những người cầm vũ khí. Đó là những Viện nguyên lão bao gồm chủ nô quý tộc, Đại hội nhân dân, gồm những người cầm vũ khí." Nhưng Nghị viện (Quốc hội) với nghĩa đích thực như ngày nay là cơ quan lập pháp thì chỉ được dùng rộng rãi trong cách mạng tư sản.

Nghị viện tư sản được sinh ra cùng với việc ban hành Hiến pháp. Bởi lẽ, sự ra đời của hiến pháp có tính cách là luật cơ ban gắn liền với thời kỳ giai cấp tư sản giành chính quyền trong cuộc đấu tranh chống lại nhà nước chuyên chế phong kiến. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp tư sản đã đạt được sự hạn chế quyền lực của vương triều bằng sự thành lập một cơ quan gọi là Nghị viện tồn tại bên cạnh nhà vua hoặc thành lập một chế độ cộng hoà thừa nhận các quyền của các công dân có của.® | Như vậy, “sự ra đời của chế độ nghị viện gắn liền với cuộc cách mang’ dan chủ tu sản. Chế độ nghị viện và nền lập hiến là thắng lợi của giai cấp tư sản nhằm chống lại chế độ quân chủ chuyên chế của nhà nước phong kiến”” Nếu như xa xưa việc thành lập bộ máy nhà nước thường theo nguyên tắc “truyền ngôi” (thế tập) người ta giải thích rằng quyền lực nhà nước xuất phát từ cõi hư vô do thiên đình định đoạt: ai, dòng họ nào được sinh ra và luôn được quyền thống trị người khác; ai, dòng họ nào không thuộc dòng họ nêu trên thì luôn luôn là những người bị thống trị.

Nhưng đến cách mạng tư ¥ xem Luật nhà nước Việt Nam. Khoa Luật trường Đại học Tổng Hop Hà Nội 1993. ag at at Beal BE +2 ⁄ § ø > š a Pa - PTS. Thái Vinh Thang - Thẻ chế nghị viện của các nhà nước tự sản.

Tap chí Luật hoc s66-1995,, tr ở 12 sản vào khoảng thế ky XV, XVI với mục đích hạn chế quyền lực vô han của nhà vua, thiết lập nhà nước bị hạn chế bởi pháp luật, hiến pháp ra đời thì việc tổ chức cơ quan nhà nước theo nguyên tắc “truyền ngôi”, “thế tập” không còn đứng vững nữa. Việc thành lập bộ máy nhà nước nói chung, và người đứng đầu nhà nước nói riêng phải tuân theo nguyên tắc bầu cử. Từ đó sinh ra một chính thể nhà nước dân chủ. Đó là chính thể cộng hoà.

Từ đó, nguồn gốc của quyền lực nhà nước dần din được công khai thừa nhận bắt nguồn từ nhân dân, từ những công dân. Những con người sinh ra và sống trên đất nước sở tại. Những con người đó không chỉ có nghĩa vụ gánh vác trách nhiệm thần dân trước giai cấp thống trị, mà còn có cả quyền lợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chức Năng Lập Pháp Của Quốc Hội Việt Nam: Vai Trò và Đổi Mới" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò quan trọng của Quốc hội trong quá trình lập pháp tại Việt Nam, nhấn mạnh những đổi mới cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động này. Tài liệu không chỉ phân tích chức năng lập pháp mà còn đề cập đến những thách thức và cơ hội trong việc cải cách quy trình lập pháp, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Khóa luận tốt nghiệp trách nhiệm của chính phủ trong quy trình xây dựng luật ở việt nam hiện nay, nơi phân tích trách nhiệm của chính phủ trong việc xây dựng luật. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học hoàn thiện quy trình thủ tục ban hành nghị quyết của quốc hội nước ta hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình ban hành nghị quyết của Quốc hội. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của quốc hội với chính phủ sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò giám sát của Quốc hội đối với chính phủ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chức năng lập pháp và những cải cách cần thiết trong hệ thống pháp luật Việt Nam.