đặt vấn đề làm sao để nâng cao chất lượng, hiệu quả HĐGS. Khảo cứu của Luận án đối với nội dung này chủ yếu được thực hiện với những công trình: Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay do GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), NXB CAND (2003); Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội, của TS. Trương Thị Hồng Hà, NXB Chính trị Quốc gia (2009); Hoàng Minh Hội, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2014): “Hoàn thiện pháp luật về giám sát của Nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”; Trần Thị Tuyết Mai, Luận án tiến sỹ luật học (2009), Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả HĐGS của Quốc hội Việt Nam; Nhóm các công trình này đã làm rõ lý luận và cơ chế giám sát; các lĩnh vực, nội dung và hệ thống cơ quan giám sát đối với tổ chức và hoạt động thực hiện QLNN. Từ vị trí, vai trò của quốc hội/nghị viện, các tác giả khẳng định giám sát là 13 chức năng quan trọng của quốc hội/nghị viện trong thế giới đương đại [104].
Qua đó đánh giá trách nhiệm của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ đối với HĐGS của Quốc hội Việt Nam [34]. Trách nhiệm của Chính phủ trong trong HĐGS có tiền đề lý luận là quyền giám sát của Nhân dân đối với cơ quan nhà nước. HĐGS của Quốc hội đối với Chính phủ mang bản chất ấy, tức là Nhân dân giám sát các cơ quan hành chính mà đứng đầu là Chính phủ thông qua cơ quan đại diện của mình [102]. Quan hệ trách nhiệm được nhiều công trình nhìn nhận dưới góc độ chủ thể có quyền giám sát với chủ thể bị giám sát.
Các cơ chế pháp lý, những yếu tố tác động đến hiệu quả giám sát của Quốc hội, thực trạng vận hành và giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội được bàn luận tại tác phẩm Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội của tác giả Trương Thị Hồng Hà [16]. Trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình lập pháp của Quốc hội Lập pháp là chức năng chính của quốc hội ở tất cả thể chế chính trị. Tuy nhiên, ý tưởng chung chủ yếu đến từ nhu cầu điều hành của hoạt động hành pháp. Do vậy, các đề xuất và việc soạn thảo thường được tiến hành bởi chính phủ và các thành viên chính phủ.
Trách nhiệm giữa chính phủ và quốc hội cũng được thể hiện trong các công trình nghiên cứu về quy trình xây dựng pháp luật. Ở Việt Nam, các công trình về nội dung này như: Sách tham khảo "Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội" (2004); Hoàng Văn Tú, Luận án tiến sỹ luật học (2004): “Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay; Trần Hồng Nguyên, Luận án tiến sỹ luật học (2007): “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; Trần Quốc Bình, Luận án tiến sỹ luật học (2011): “Vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; Trần Hoài Nam, Luật án tiến sỹ luật học (2018): “Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN Việt Nam”; Lê Quốc Hùng, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội (2004): “Nguyên tắc QLNN là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt 14 Nam”; sách chuyên khảo “Quốc hội Việt Nam trong NNPQ” (2007) và “Chính phủ trong NNPQ” (2008) của GS.TS Nguyễn Đăng Đung chủ biên của NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu trình tự, thủ tục và chất lượng hoạt động của Chính phủ nhìn từ khía cạnh quy trình lập pháp là một góc nhìn về trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội. Để điều hành, Chính phủ buộc phải đưa ra các giải pháp chính sách và kết quả của lựa chọn chính sách ấy là các đạo luật – sẽ được thông qua bởi Quốc hội.
Bởi vậy, có thể khẳng định tính tất yếu về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ khi tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội. Điều đó xuất phát từ bản chất Chính phủ là một thiết chế “hành động”, vừa mang tính hành chính, vừa mang tính chính trị trong tổ chức QLNN [105]. Các công trình này trình bày hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề đổi mới quy trình lập pháp; giới thiệu toàn diện quy trình lập pháp qua các thời kỳ; phân tích nội dung đổi mới quy trình lập pháp gắn liền với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội, phương thức hoạt động của các kỳ họp Quốc hội [19]. Hoạt động lập pháp được các tác giả đề cập có phạm vi rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt động của riêng một chủ thể nào mà có liên quan đến các chủ thể khác trong quy trình lập pháp [101].
Vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp là một tất yếu khách quan, được bắt nguồn từ chính thực tiễn quản lý, điều hành của Chính phủ đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời đưa ra quan niệm về quy trình lập pháp với tư cách là một công cụ, cơ sở nền tảng để giải quyết vấn đề lập pháp. Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân làm hạn chế vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam. Trong đó, sự thiếu rõ ràng trong việc xác định trách nhiệm giữa cơ quan lập pháp và hành pháp là nguyên nhân chính làm hạn chế vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay [97]. Điểm chung của nhiều công trình nghiên cứu là việc khẳng định vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động lập pháp và sự cần thiết phải phối hợp giữa Quốc hội với Chính phủ, tính tất yếu của vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình lập pháp của Quốc hội [97],[105].
TS Nguyễn Đăng Dung cũng 15 khẳng định "Chính phủ - Hành pháp không chỉ có trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản lập pháp, mà còn là trung tâm của BMNN có trách nhiệm tạo điều kiện cho việc hoàn thành các quyền lập pháp và tư pháp" [5], [6]. Những nghiên cứu về thực tiễn trách nhiệm của Chính phủ trƣớc Quốc hội Mặc dù thực tiễn trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội không phải là nội dung nghiên cứu riêng biệt, tuy nhiên trong các công trình nguyên cứu về tổ chức, hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, nội dung mang tính thực tiễn, thực trạng thường được lồng ghép với các nghiên cứu lý luận đã khảo cứu trong mục 1. Các công trình liên quan thường dẫn những dữ liệu thống kê để nhận định hoặc minh họa một hoạt động của Chính phủ chưa tốt hoặc việc giám sát của Quốc hội có những điểm cần hoàn thiện. Chẳng hạn tình trạng trả lời chất vấn của các bộ ngành còn lúng túng, không trọng tâm [104].
Hoặc tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn luật hoặc dự thảo các luật, pháp lệnh [105]. Trong Luận án tiến sỹ Chính trị học “Trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong hoạch định và thực thi chính sách ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2018), tác giả Bùi Thị Cần đã phân tích quy chế và vai trò của Quốc hội đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong quá trình chính sách còn chứa chặt chẽ [98]. Trong tác phẩm “Trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trong xây dựng luật, pháp luật” của TS. Trương Hồng Quang (Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp) đã chỉ ra ba thực trạng tính cắt khúc trong công tác xây dựng pháp luật liên quan đến kết quả thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ [86].
Khi xem xét trách nhiệm của Chính phủ trong việc tham gia vào hoạt động của Quốc hội, tác giả Trần Hoài Nam đánh giá thực trạng trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động lập pháp chưa chủ động trong việc đề xuất chính sách; chưa phát huy hết trách nhiệm đối với dự án luật, pháp lệnh do mình chuẩn bị và trình [105] , [106, tr. Bên cạnh phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của Quốc hội, có những nhiệm kỳ Quốc hội được lấy làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm, chẳng hạn khóa XII được khá nhiều đề tài phân tích, đánh giá. Ví dụ Đề 16 tài cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII” do GS.TS Trần Ngọc Đường làm chủ nhiệm (2009); Đề tài cấp Bộ “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII và phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động khóa XIII” do TS. Đinh Xuân Thảo chủ nhiệm (2011).
Các nhà khoa học đã làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII trên các mặt hoạt động khác nhau. Đồng thời sự tham gia của Chính phủ tác động tới hiệu quả hoạt động của Quốc hội cũng được đánh giá như một yếu tố bảo đảm hiệu quả của Quốc hội và cũng chính là trách nhiệm của Chính phủ [91], [93]. Ngoài ra, một trong những nội dung mới được quan tâm trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIV là việc thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ trước Quốc hội, trách nhiệm trình các dự án trọng điểm quốc gia theo thẩm quyền để Quốc hội thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia. Những nghiên cứu về các giải pháp nâng cao trách nhiệm của Chính phủ trƣớc Quốc hội Tương tự như nghiên cứu về thực tiễn, liên quan đến giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ hay cơ chế trách nhiệm của chính phủ trước quốc hội không có nhiều công trình riêng rẽ mà được kết hợp trong nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trang và đề xuất giải pháp.
Tác giả Phạm Hồng Thái trong Luận án tiến sỹ luật học (1994), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng NNPQ Việt Nam” đã khái quát những vấn đề chung về NNPQ từ tư tưởng tới học thuyết, thực tiễn áp dụng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ.