CHƯƠNG 1: CƠ SO LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LY VE HOẠT DONG GIÁM SÁT CỦA ĐBQH 1. Khai niệm ĐBQH và hoạt động giam sát của ĐBQH 1. Khải niệm ĐBQH Quốc hội (Nghị viện) và các thành viên của nó ra đời trong thời kỳ cách mạng tư sản ở châu Âu mà cụ thể là tại nước Anh. Sự tha hóa của triều đình phong kiến đã dẫn tới sự lệ thuộc ngày càng tăng vào các nguồn tài chính xã hội.
Các cuộc họp của những người đứng đầu các nhóm lợi ích để quyết định mức đóng góp vào ngân khó triều đình, trải qua hàng trăm năm phát triển đã trở thành Nghị viện (Quốc hội). Đến thế kỷ XIX, phạm vi đại diện của các thành viên Nghị viện đã phá vỡ khuôn khô những nhóm lợi ích, được mở rộng dé bao gồm toàn thể nhân dân. Khác với sự ra đời kinh điển đó của Nghị viện nước Anh, Quốc hội nước ta ra đời trong cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc. Ngay từ khi ra đời, Quốc hội nước ta đã là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước.
ĐBQH là người đại biểu của toàn dân, của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, do nhân dân trực tiếp bau ra thông qua thê thức phổ thông đầu phiếu. Ngay từ những ngày đầu tiên của Quốc hội Việt Nam, Hỗ Chủ tịch đã khang định: “các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thé quốc dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết to ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”[4]; “Quốc hội là tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyên nổi”[5]. Quan điểm này mang tính nguyên tắc, là sợi chi đỏ xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Từ giác độ quyền lực nhà nước, quyền lực của Quốc hội có nguồn gốc ở nhân dân, ở tính đại diện cho nhân dân. Bởi xét về bản chất, tính đại diện của Quốc hội chính là sự thé hiện nguyên tắc hién định tại Điều 2, Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Do đó, ĐBQH Việt Nam là yếu tố đại diện cho ý chí thống nhất của dân tộc, vì dai nghĩa cua dân tộc[ 17]. Trên cơ sở các yếu tô va quan điểm đó về ĐBQH, khái niệm ĐBQH đã được pháp luật quy định cụ thể tại điều Điều 43 Luật t6 chức Quốc hội năm 2001, đó là: “ĐBQH là người đại diện cho y chí và nguyện vọng của nhân dan, không chỉ đại điện cho nhán dân ở đơn vị bau cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyên lực nhà nước trong Quốc hội”.
Với khái niệm trên, ĐBQH là người được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đăng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Khác với Nghị sỹ Quốc hội các nước tư sản, các ĐBQH nước ta phải gắn liền với cử tri và đơn vị bầu cử đã bầu ra họ. Qua bầu cử, nhân dân ủy nhiệm quyền lực của mình, dé ĐBQH thay mặt nhân dân quyết định các công việc quan trọng của đất nước. Là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn dé quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đôi với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, ĐBQH có những thấm quyền đặc biệt mà các cá nhân khác trong bộ máy nhà nước không có được.
Đó là các quyén gan liền với quyền lực của Quốc hội và các quyền miễn trừ do pháp luật quy định. ĐBQH là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra. Đó là những đại biểu chính thức của nhân dân. Các ĐBQH nước ta theo tinh thần của Lênin là những người: “Tu mình công tác, tự mình áp dụng những luật pháp của mình, tự mình kiểm tra lấy những tác dụng của luật pháp ấy, tự mình chịu trách nhiệm trước cứ tri cua mình”[ 14].
ĐBQH có địa vị pháp lý đặc biệt được quy định trong Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của ĐBQH, bao gồm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động của ĐBQH. Đó là người đại diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cau thành cơ quan quyền lực nha nước cao nhất. ĐBQH là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân. ĐBQH vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyên lực nhà nước cao nhất.
ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị mình bầu cử ra mình mà còn đại điện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội. Vì vậy, trong khi làm nhiệm vụ, ĐBQH phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước đồng thời cũng phải quan tâm thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình, phải căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và những quy định của chính quyền nhà nước ở địa phương. Địa vị pháp lý của ĐBQH có mối quan hệ logic và biện chứng chặt chẽ VỚI quyền lực nhà nước, quyền lực của Quốc hội. Do có vi trí đặc biệt đó, ĐBQH có vai trò rất quan trọng trong xã hội.
ĐBQH là tế bào sống, là yếu tố cấu thành của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có ảnh hưởng to lớn đến quá trình thực hiện các chức năng của Quốc hội. Vị trí pháp lý của ĐBQH được bắt đầu sau khi Quốc hội đã xác nhận tư cách đại biểu tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất mỗi khóa Quốc hội. Nhiệm kỳ của ĐBQH được tính từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau. Như vậy, trên cơ sở phân tích những nội dung trên, có thé rút ra khái niệm ĐBQH như sau: “ĐBQH là người được nhân dân lựa chọn thông qua bau cử, đại điện cho ý chí và nguyện vọng cua nhân dân, là người thay mặt cho nhân dân thực hiện quyên lực nhà nước tại Quốc hội”.
Theo đó, ĐBQH mang đặc điểm: 10 - Là người đại diện của nhân dân, ĐBQH là người của nhân dân. Họ có trách nhiệm phải thường xuyên gân gũi với cử tri dé năm bat tâm tư, nguyện vọng và những yêu câu của cử tri đôi với Nhà nước. - Là người thay mặt nhân dân thực hiện thâm quyền của Quốc hội, ĐBQH là một thành viên trong bộ máy nhà nước. Khải niệm hoạt động giảm sát của ĐBQH Trong Từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo đõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo đõi và kiêm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”[23].
Giám sát khác với kiểm tra ở chỗ: giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài, còn kiểm tra có thé là hoạt động thường xuyên từ bên trong của tô chức. Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 đã giải thích về hoạt động giám sát rất rõ như sau: “Giám sát là việc Quốc hội, UBTVOH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH theo doi, xem xét, đánh giá hoạt động cua cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVOH”. Như vay, hoạt động giám sát lúc nào cũng cần đến hai giai đoạn, giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh gia. Giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra là cơ sở thực hiện của giai đoạn đánh giá; theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá sẽ đúng đăn và chính xác, cuộc giám sát sẽ có kêt quả tích cực và ngược lại.
Hoạt động giảm sát của ĐBQH là hoạt động thực hiện một trong ba chức năng quan trọng của Quốc hội đó là chức năng giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. Với vai trò là thành viên của Quốc hội, ĐBQH giám sát thông qua các hoạt động sau đây: - Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; II - Giam sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; - Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. ĐBQH tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH; tham gia Đoàn giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cau. Căn cứ vào kết quả giám sát, ĐBQH có các quyền: kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tô chức, cá nhân có thâm quyền sửa đổi, bố sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thâm quyền xem xét, giải quyết các vẫn đề có liên quan đến chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước hoặc các vấn đề của địa phương.
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, yêu cầu cơ quan, tô chức, cá nhân có thâm quyền áp dụng các biện pháp dé kịp thời cham dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích cua Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của tô chức, cá nhân bị vi phạm. Thực hiện hoạt động giám sát, ĐBQH phải đảm bảo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thấm quyên, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, cá nhân chịu sự giám sat. ĐBQH chịu trách nhiệm về quyết định, yêu cầu, kiến nghị giám sát của mình và báo cáo cử tri tại địa phương về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát. Hàng năm và mỗi sáu tháng, các cá nhân ĐBQH đăng ký chương trình giám sát ở địa phương với Đoàn ĐBQH ở địa phương để đưa vào chương trình giám sát.