Nghiên Cứu Về Quyền Tiếp Cận Thông Tin Trong Tố Tụng Hành Chính Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính tại Việt Nam, nêu rõ thực trạng và giải pháp cải cách.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

181
10
2

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra trong luận án

Nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính tại Việt Nam hiện nay đang trở thành một lĩnh vực quan trọng. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng quyền tiếp cận thông tin không chỉ là một quyền cơ bản của công dân mà còn là yếu tố quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy nhiều vấn đề còn tồn tại, như việc thiếu minh bạch trong quy trình tố tụng hành chính và sự hạn chế trong việc cung cấp thông tin hành chính. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào lý thuyết mà chưa đi sâu vào thực tiễn, dẫn đến việc chưa có cái nhìn toàn diện về quyền công dân trong lĩnh vực này. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn về quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của công dân và nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật.

1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng quyền công dân trong việc tiếp cận thông tin là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính vẫn còn hạn chế. Các tác giả đã chỉ ra rằng việc thiếu hụt thông tin có thể dẫn đến việc vi phạm quyền lợi của công dân. Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính.

II. Những vấn đề lý luận về quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính

Khái niệm quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính được hiểu là quyền của công dân trong việc yêu cầu và nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước liên quan đến các quyết định hành chính. Luật tiếp cận thông tin đã quy định rõ ràng về quyền này, tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều công dân vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền của mình. Các nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cần được thực hiện nghiêm túc, bao gồm việc công khai thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu và bảo vệ quyền lợi của công dân. Việc thực hiện các nguyên tắc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân mà còn nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

2.1. Khái niệm và vai trò của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính không chỉ là quyền lợi của công dân mà còn là trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm quyền này. Thông tin công khai giúp công dân hiểu rõ hơn về các quyết định hành chính, từ đó bảo vệ quyền lợi của mình. Việc thực hiện quyền này còn góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều công dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền của mình, dẫn đến việc không thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin một cách hiệu quả.

III. Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù luật tiếp cận thông tin đã được ban hành, nhưng việc thực hiện quyền này vẫn còn nhiều hạn chế. Các cơ quan nhà nước chưa thực sự công khai thông tin, dẫn đến việc công dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin cần thiết. Hệ thống pháp luật cũng chưa quy định rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan trong việc cung cấp thông tin, điều này gây khó khăn cho công dân trong việc thực hiện quyền của mình. Đặc biệt, trong bối cảnh tố tụng hành chính, việc thiếu thông tin có thể dẫn đến việc vi phạm quyền lợi hợp pháp của công dân.

3.1. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật

Đánh giá thực trạng quy định pháp luật cho thấy rằng mặc dù có nhiều quy định về quyền tiếp cận thông tin, nhưng việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập. Các cơ quan nhà nước thường không công khai thông tin theo quy định, dẫn đến việc công dân không thể tiếp cận thông tin cần thiết. Hơn nữa, việc thiếu sự đồng bộ trong các quy định pháp luật cũng gây khó khăn cho việc thực hiện quyền này. Cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình, đảm bảo quyền lợi của công dân trong tố tụng hành chính.

IV. Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính, cần có những phương hướng và giải pháp cụ thể. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của công dân về quyền của mình trong việc tiếp cận thông tin. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cần thực hiện nghiêm túc các quy định về công khai thông tin, đảm bảo rằng mọi thông tin liên quan đến tố tụng hành chính đều được công khai và dễ dàng tiếp cận. Hơn nữa, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc thực hiện quyền của mình.

4.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm việc xây dựng một hệ thống thông tin công khai hiệu quả, nơi công dân có thể dễ dàng tìm kiếm và tiếp cận thông tin liên quan đến tố tụng hành chính. Cần có các chương trình đào tạo cho cán bộ công chức về quyền tiếp cận thông tin, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ trong việc cung cấp thông tin cho công dân. Cuối cùng, cần có cơ chế giám sát và đánh giá việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, từ đó kịp thời điều chỉnh các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin nói chung trên thế giới, cũng như ở Việt Nam là tương đối đầy đủ. Tuy nhiên nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực khoa học pháp lý về tố tụng hành chính còn khá mới mẻ. Do đó, để làm rõ hơn những vấn đề nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính, luận án sẽ đánh giá tổng quan một số công trình theo nhóm về: 1.

Nghiên cứu liên quan đến lý luận về quyền tiếp cận thông tin và quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính Tiếp cận thông tin đã trở thành một nhu cầu và một quyền cấp thiết cần phải được bảo đảm đối với mọi công dân. Ở mỗi lĩnh vực cụ thể, quyền tiếp cận thông tin lại có những đặc thù khác nhau. Nghiên cứu lý luận về quyền tiếp cận thông tin nói chung và quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính nói riêng đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập ở những khía cạnh nhất định. Có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Các nghiên cứu:“The Right to Know: Human rights and access to reproductive health information” (Quyền được biết: Quyền con người và tiếp cận thông tin liên quan đến sức khỏe) của Sandra Coliver (1995) [84];“Access to Information as a Human Right” (Tiếp cận thông tin như là một quyền con người) của Kay Mathiesen (2008) [95]; “The right of access to public information” (Quyền tiếp cận thông tin công) của Síndic de Greuges de Catalunya (2012) [83].

Các tác phẩm đã phân tích hệ thống luật pháp quy định về quyền tiếp cận thông tin của người dân ở một số quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, một số công trình đề cập nhu cầu tiếp cận thông tin của con người trước sự đa dạng thông tin như hiện nay, tính chủ động và bị động trong tiếp nhận thông tin của người dân; những xung đột về quyền lợi trong tiếp cận thông tin giữa các giai tầng trong xã hội. Một số khác lại nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin của con người đứng trước những 9 tác động của sự phát triển một cách mạnh mẽ của các phương tiện truyền tải thông tin, đặc biệt là mạng internet. Ngoài ra, các tác giả cũng đưa ra những cách thức mà một số quốc gia trên thế giới đã thực hiện để kiểm soát thông tin trực tuyến.

Cụ thể là việc ngăn chặn, sàng lọc nội dung thông tin, áp đặt chế tài hình sự cho hành vi phổ biến một số thông tin được đánh giá là nhạy cảm, đồng thời áp đặt cho các chủ thể truyền tin có trách nhiệm ngắt kết nối nhằm mục đích ngăn chặn sự lan truyền của thông tin độc hại. Bài viết “Quyền tiếp cận thông tin - điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân”của tác giả Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17 (154), tháng 9/2009. Theo tác giả, quyền tiếp cận thông tin là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền, đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước. Quyền tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thực hiện các quyền con người và quyền công dân.

Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quyền chính trị và dân sự của người dân. Muốn thực hiện các quyền, trước hết công dân phải có đầy đủ thông tin. Nếu không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, công dân không thể thực hiện các quyền đó của mình [60]. Mặt khác, nếu không có các thông tin đầy đủ, việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tài sản của công dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Ngoài ra, quyền tiếp cận thông tin còn có vai trò trong việc đảm bảo thực hiện các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội của công dân. Khi có thông tin đầy đủ, mọi công dân có thể thực hiện các quyền của mình là quyền tự do kinh doanh, quyền học tập, quyền tiếp cận các chính sách tạo công ăn việc làm cho người lao động, quyền được sống trong môi trường trong sạch,. Như vậy, quyền tiếp cận thông tin không chỉ là “oxy của nền dân chủ”, mà suy cho cùng, nó là tiền đề để thực hiện mọi quyền. Vì không có thông tin thì người dân không thể biết, không thể bàn, không thể làm, không thể kiểm tra về bất cứ vấn đề gì.

Nói một cách khác, tất cả các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân đều chỉ có thể đảm bảo thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền tiếp cận thông tin. Trong bài viết “Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận 10 thông tin” của Chu Thị Thái Hà, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17 (154), tháng 9/2009. Theo tác giả, luật tiếp cận thông tin của các nước quy định về phạm vi thông tin được tiếp cận không giống nhau. Có hai cách chính quy định trong luật về phạm vi thông tin được tiếp cận, đó là: (1) Liệt kê những loại thông tin cơ quan công quyền có trách nhiệm công bố trong thời hạn luật định và những loại thông tin hạn chế hoặc miễn trừ tiết lộ; (2) Chỉ liệt kê những loại thông tin hạn chế hoặc miễn trừ tiếp cận.

Về nội hàm quyền tiếp cận thông tin, một số quốc gia trên thế giới hiểu đó là quyền tìm kiếm, thu thập thông tin, quyền yêu cầu cung cấp thông tin và quyền truyền bá thông tin [17]. Ở Việt Nam chưa có quy định để có cách hiểu thống nhất nội hàm của quyền này. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật đã có những quy định cụ thể về quyền tìm kiếm, thu thập, trao đổi thông tin. Quyền tiếp cận thông tin theo pháp luật các nước luôn nằm trong quyền tự do ngôn luận.

Theo tác giả, trong bối cảnh của nước ta hiện nay, Luật Tiếp cận thông tin chỉ nên quy định về việc công dân, tổ chức tiếp cận thông tin bằng cách tìm kiếm, thu thập và yêu cầu cung cấp thông tin với những hình thức biểu hiện cụ thể: đọc, xem, nghe, ghi chép, chụp, trích dẫn nội dung của hồ sơ, tài liệu… còn quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân thì đã được Luật Báo chí quy định. Tổng hợp các quy định về quyền tiếp cận thông tin trong các công ước của Liên hiệp quốc và điều ước khu vực, bài viết“Quyền tiếp cận thông tin trong các văn kiện quốc tế” của tác giả Nguyễn Quỳnh Liên, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật [26]. Trong những văn kiện pháp lý đầu tiên về quyền con người Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người; Công ước Quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị; Công ước UNECE về Tiếp cận thông tin, Tham gia của công chúng vào quá trình ra quyết định và tiếp cận công lý đối với các vấn đề môi trường, quyền tiếp cận thông tin không được nêu riêng biệt mà bao hàm trong quyền tự do biểu đạt, bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin,. Trong các điều ước khu vực, quyền tiếp cận thông tin được thể hiện ở nhiều văn bản: Luật Thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin của các thể nhân và pháp nhân đối với các thông tin do các cơ quan nhà nước đang nắm giữ của EU năm 1981 [83], Công ước về Bảo 11 vệ môi trường năm 1993, Luật về Tiếp cận thông tin của EU năm 2002; Công ước của Liên minh châu Phi về Phòng, chống tham nhũng năm 2003, Hiến chương châu Phi về Quyền con người và Các quyền của nhân dân năm 2006,… Cuốn sách “Tiếp cận thông tin: pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam” của nhóm tác giả Lã Khánh Tùng, Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Trịnh Quốc Toản, Vũ Công Giao, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011) đã tập hợp các bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả, cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể, toàn diện về nhiều khía cạnh khác nhau của quyền tiếp cận thông tin: Lịch sử hình thành, các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật các nước và của Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin.

Tuy nhiên đối với sự thay đổi các quy định pháp luật hiện nay, các kết quả nghiên cứu đã không còn phù hợp [55]. Bài viết “Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam” của tác giả Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương (2012) đi vào nghiên cứu khái quát vai trò và nội dung, thủ tục của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.Qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả nhận định bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hành chính trước hết phải tạo được điều kiện, tiền đề để công dân, tổ chức dễ dàng tiếp cận Tòa án để bảo vệ các quyền của mình, mà họ cho rằng đã bị quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm tới. Mặt khác phải tạo ra được điều kiện thuận lợi để công dân có thể cùng trao đổi với cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính bị khiếu kiện. Có nghĩa phải tạo được sự bình đẳng trong quan hệ tố tụng hành chính giữa công dân với cơ quan, người bị công dân khiếu kiện và với cả Tòa án trong xét xử hành chính [59].

Luận văn “Xây dựng cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam từ kinh nghiệm ở các nước trên thế giới” của tác giả Đinh Quỳnh Mây (2014) tại Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin từ kinh nghiệm các nước trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam một cách tương đối toàn diện và có hệ thống. Theo đó, tác giả nhận định quyền tiếp 12 cận thông tin bao gồm: quyền được xem các tác phẩm, tài liệu, hồ sơ, được ghi chép, trích dẫn, sao chụp các tài liệu, hồ sơ đó, được thu thập thông tin dưới dạng các đĩa mềm, thẻ nhớ hoặc bất kỳ dạng thiết bị điện tử nào [29]. Đề tài trọng điểm cấp nhà nước “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tiếp cận thông tin ở nước ta hiện nay” (KX. Nguyễn Minh Thuyết chủ nhiệm (2014-2015) [62] đã tổng hợp, phân tích, đánh giá khái quát thực trạng tiếp cận thông tin ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên Cứu Về Quyền Tiếp Cận Thông Tin Trong Tố Tụng Hành Chính Ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Trung Thành, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Mai Thanh và TS. Trần Kim Liễu, được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội vào năm 2022. Bài viết tập trung vào việc phân tích quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hành chính tại Việt Nam, một vấn đề quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi của công dân và sự minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Bài nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và các quy định pháp lý hiện hành mà còn đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện quyền tiếp cận thông tin, từ đó nâng cao hiệu quả của hệ thống tố tụng hành chính.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và quyền lợi của công dân, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến quyền khiếu nại của công dân trong lĩnh vực đất đai, và Xử phạt vi phạm hành chính trong thông tin truyền thông tại tỉnh Phú Thọ, bài viết này cũng liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền tiếp cận thông tin và các vấn đề pháp lý liên quan tại Việt Nam.