CHƯƠNG 1. NHUNG VAN DE LÍ LUẬN VE BAO DAM QUYỀN CUA NHÓM YEU THE TRONG XAY DUNG VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT 1. Khái quát quyền của nhóm yếu the 1. Khái tiệm qmyều của hóa yến thế 11L1.
Khải niệm nhóm yếu thé Khái niệm “yêu thé” là một khái niêm mở, khó để đính nghĩa chính xác và có thé thay đôi theo ngữ cảnh: Bên cạnh đó, sư yêu thé có thé phát sinh từ tư nhiên va không thé tránh khỏi (do các đặc điểm về giới, sinh lý, xu hướng tinh duc, tuôi tác, chủng tộc và các yêu tô khác không bị quyết định bởi tác động bên ngoài) hoặc nó có thé được tao ra duy trì bởi sự sắp đất của cá nhân hoặc xã hội (do các đặc điểm về quốc tịch, dia vị xã hội và các yêu tô khác bị quyết định bởi tác động bên ngoài). Hiện nay, trong lĩnh vực pháp luật về quyên con người, tuy chưa được định ngiña chính thức và van con những ý kiên khác nhau nhưng nhóm yêu thé/thiét thời (disadvantaged groups), còn được gọi là nhóm dé bị tôn trương (vulnerable groups) hay nhóm thiểu số (minority groups),. được sử dung rất phô biến trong các văn kiên pháp lý quốc tế và trong các hoạt đông nghiên cứu, thực tiễn về quyền con người trên thê giới. V ê bản chất những khái niém nhóm yêu thé/ nhóm thiệt thoi/ nhóm dé bị tên thương là không khác nhau.
Trong các văn kiện quốc tê và hoạt động nghiên cứu, thực tiễn về quyền con người trên thé giới, thuật ngữ “nhóm dé bi tan thương" hay “nhóm thiệt thời” được sử dung phổ biến hơn song trong pham vi dé tai này, tác giả sử dung thuật ngữ có tính tương dong đó là “nhóm yêu thể” nhằm nhân mạnh vị thé yêu, thuật thời hơn của nhóm này so với các nhóm khác va cũng như do cách tiép cận đưới góc nhìn bảo vệ quyền hay cơ hội tiép cân quyền của nhóm này trong xã hội Ngày 19/10/2005, các quốc gia thành viên của LHQ đã thông qua Tuyên ngôn Thé giới về Dao đức Sinh hoc và Nhên quyền (Universal Declaration on Bioethics and Human Rights). Điêu§ của bản tuyên ngôn dé cập đền “tinh dé bị tôn thương” và “nhóm dé bi tổn thương "3. Tuyên ngôn không định ngiĩa các thuật ngữ “tinh dé bị tên thương” hay “nhóm dé bị tôn thương” nhưng khẳng định rằng không ` UNESCO (2005), Universal Declaration on Bioethics and Human Rights, adopted on 19 October 2005, Artick § 7 chỉ cá nhân ma cả các gia đính, các nhóm và công đồng đều có thể bị tổn thương, đông thời chỉ ra một số trường hợp có thé làm cho các cá nhân và nhóm dé bị tên thương như. địch bệnh, khuyết tật, các điều kiên khác của cá nhân, điều kiện môi trường, giới hạn tài nguyên.
WHO cũng không đưa ra định ngliia về “nhóm dễ bi tổn thương mà chỉ xác đính các đối tượng “dé bị tổn thương” bao gồm: Trẻ em, phụ nữ có thai, người cao tuổi, người suy dinh dưỡng và những người bị êm hoặc suy giảm miễn dich, đặc tiệt dé bị tên thương khi xây ra thiên tai Vu Hòa nhập, Xã hội và Việc làm của Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa “nhóm dễ bị tổn thương” là “nhóm có nguy cơ cao về nghèo đới và bị loại trừ xã hội so với đại bộ phân dan số”. Mặc dù không co một văn kiện pháp lý chính thức nao định nghia một cách 16 rang về thuật ngữ nay cũng như hiểu một cách chính thức về tính chat của nhóm này, tuy nhién từ các nguôn tai liệu và thực tiễn quyền con người, có thé hiểu khái niém nhóm yêu thé là những nhóm, cộng đồng người có vị thé về chính trị, xã hỏi hoặc kinh tế thấp hon, từ dé khién họ có nguy cơ cao hon bị tôn thương về quyên cơn người, và bởi vậy cần được chú ÿ bảo vé đặc biết so với những nhóm, cộng đồng người kde’. Theo xác định của UNESCO, nhóm yêu thé/thiét thời bao gồm: những người an xin, nạn nhân của các loại tội phạm, người tan tật, thanh. thiêu miên có hoàn cản khó khăn, nhóm giáo dục đặc biệt, người cao tuổi, người nghéo, tù nhân, gái mai dâm, người thất nghiệp, người lang thang cơ nhé.
N goài ra còn ké đền người ti nạn, người xin ti nạn, người bi xã hội loại trừ Theo cách xác đính này người nghèo, người thất nghiệp cũng được coi thuộc nhóm yêu thé/thiét thời Theo Luật quốc tê về quyền cơn người, nhóm người dé bị ton thương bao gồm: phụ nữ, tré em, người khuyết tật, người cao tuổi, người sóng chung với HIV, người di tin hoặc người tim kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người lao đông di trú, người thiểu sô (về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo,.), người ban địa, nan nhân chiên tranh, những người bi tước tự do,. Va tùy ting thời điểm, danh sách “WHO, PlvionuherialBuath i energencis, Vuherable group š Khoa Luật Dai hoc Quốc gia Hà Nội, Giáo trinh Lý hận và pháp hut vì quyền con người, Nxb. Dai học Quốc gia Hà Nội,tr. nay có thé được bố sung, bao gôm những nhóm người có nguy cơ cao về quyền con người trong nhiêu hoàn cảnh, bối cảnh (xét trên cả phạm vi quốc tê, khu vực, quốc ga, ở trong gia đỉnh, nơi làm việc hoặc ngoài xã hội) Xét trên thực tế của Việt Nam, một số nghiên cứu còn kể thêm nhom người 1a nạn nhân chiến tranh, đặc biệt nạn nhân chat độc mau da cam, nhóm bi bạo lực ga dinh, nạn nhân bi quay rối và lam dung tinh đục; nạn nhân buôn bán người, các đổi tượng mắc bệnh xã hội, trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS.
Trong pháp luật Việt Nam cũng quy đính về những người dễ bi tôn thương như. Luật Trợ giúp pháp lý năm 20176, Luật Phòng, chồng thiên tai năm 20137. Ngoài ra, Luật N gười khuyết tật, Luật Trẻ em,. là những luật cu thé quy định về ting nhóm người dễ bị tổn thương, Từ phân tích trên, có thé hiểu nhóm yêu thé là những nhóm xã hôi đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hon, có vị thé xã hội thap kém hơn so với các nhóm xã hội “tình thường” có những đặc điểm tương tự.
Ho gặp phải hàng loạt thách thức, ngăn can khả năng hòa nhập của ho vao đời sống công đồng Hang rào đó có thể liên quan đến thể chất, liên quan đến khả năng, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống sư đánh giá, ky thị của xã hội, các van đề tâm lý,. Hàng rào đó có thê là vô bình, có thé là hữu hình, ngăn cén ho tiệp cân và sử đụng các phương tiện sông thiết yêu hay các dich vụ xã hội cần thiết cho moi thành viên “bình thường” của xã hội. Dé nâng cao vị thé xã hội, giảm sự thiệt thoi, họ rat cần được sự quan tâm, gúp đỡ, hỗ trợ từ xã hội. Việc kể tên nhóm xã hôi nay hay nhóm xã hội khác trong danh sách của nhóm xã hội yêu thê hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm cũng như mục đích của tùng nghiên cửu, từng du án, tùng chính sách, từng phong trào cu thé.
Co thé còn những ý kiên khác nhau nhưng quan niệm về nhom yêu thé được thira nhân rông rai với cách hiểu như sau: Nhóm người yêu thé là những người có vi thé chính tri, xã hội hoặc kinh tế thấp hon do sức khỏe, giới tinh xu hướng tình duc, nguồn gốc, dân tộc và các yếu tô khác nên không có khả năng hoặc bị han chế về khả năng tiếp cận, thực hiển và bảo về các quyên con người của minh, vì vậy, có nguy cơ cao bị phét lờ, bì bd quên hoặc bị vi phạm các quyền con người đó, bởi thế cẩn có sự quan tâm, hé trợ đặc bié từ nhà nước và xã hồi ° Điều 7 Luật Trợ gxip pháp lý năm 2017 ` Điều 3 Luật Phòng, chong thiện tai năm 2013. Khải niệm quyền của nhóm yêu thé Trước khí tim hiểu về quyên của nhóm yêu thé, cântiếp cận xuất phát từ khái miệm quyền của con người Quyền của cơn người (Human rights, Droits de L’homme) là một phạm tru chính trị - pháp lý và 1a một van đề nhay cảm và phức tap, nên luôn có các cách biểu khác nhau, từ khái niệm, nội dung đến cách thực hiện quyên con người. Hiện nay có rat nhiéu cách định ng†ĩa về quyền cơn người, tuy nhiên chưa có định ngiĩa nào được xem là chính thức và chứa dung day đủ nội ham của quyền con người. Mỗi cách định ngiĩa lại dựa vào ý chi chủ quan và góc đô quan tâm của moi cá nhân.
Dưới góc độ quốc tê, khái niém quyền con người được V ăn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyên con người (OHCHR) dinh nghĩa là “những dtim bảo pháp lý toàn cẩu: (taniversal legal guarantees) có tác đụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành đồng (actions) hoặc sự bö mặc (omisssions) mà làm tốn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entilements) và tự do cơ ban (fundamental freedoms) của con người”$. Theo quyền “A Basic Handbook for UN steff” của OHCHR cũng đưa ra một khái niệm khác về quyền con người. Theo khái niém này thi quyền con người được tiểu chung là những quyên thuộc về con người, khái niệm quyền con người thé hiện. ở việc moi cá nhên con người đều có quyền hưởng những quyền của minh mà không có sự phân biệt về chủng tộc, mau da, giới tinh, ngôn ngữ, tên giáo, quan điểm chính.
trị, dân tộc hoặc nguén gôc xã hôi, tài sản sự sinh ra hoặc những quy chế khác. Quyên cơn người không những được nhìn nhận trên quan điểm các quyền tự niên (natural rights) mà nó còn được nhìn nhận trên quan điểm các quyền pháp ly (legal rights). Những đổi tượng thuộc nhóm yếu thé cũng lả con người, là công dân bởi vậy, quyền của nhóm yêu thé cũng mang nhũng tính chat của quyền con người, quyền công dân sau đó mới mang những tính chất riêng tương tng với đặc điểm của ting nhóm yêu thé cụ thé. Quyên của nhóm yêu thé trước hết là quyền cơn người niên có day đủ những thuộc tinh co bản của quyền cơn người như: Tính phố biển * OHCHR (2006), Haven Rights Trabäng - A manual on Honan Rights Training Methodology (Professional ‘Trang Series No.6), New York and Geneva tr.
* OHCHR (2000), 4 Basic Handbook for UN Staff, New York md Gevena,tr2. quyền con người mang tính phố biến (toiversal). Tinh phé biên của quyền con người thê hiện ở chỗ quyền con người là những gì bam sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tat cả moi thành viên trong gia dinh nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bat ky lý do gì, chẳng hạn như về ching tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo.