Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, việc hoàn thiện thể chế nhằm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Với chủ trương nhất quán “không để ai bị bỏ lại phía sau”, hệ thống pháp luật đã từng bước tạo lập khung khổ pháp lý cho việc thúc đẩy bình đẳng và bảo vệ các nhóm dân cư có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) vẫn bộc lộ những khoảng trống, tính thiếu đồng bộ, tính khả thi chưa cao hoặc chậm đi vào cuộc sống, dẫn đến việc thụ hưởng quyền của các nhóm yếu thế trên thực tế còn gặp nhiều rào cản. Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) chỉ ra rằng đói nghèo, bất bình đẳng giáo dục, khoảng cách địa lý, rào cản ngôn ngữ và định kiến xã hội tiếp tục cản trở khả năng tiếp cận pháp luật và tư pháp của các đối tượng này.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật của tác giả Nguyễn Hà Trang (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024) tập trung giải quyết yêu cầu hoàn thiện quy trình lập pháp nhằm bảo đảm quyền cho nhóm yếu thế.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong quy trình xây dựng VBQPPL, đề xuất các giải pháp khả thi, đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập, nâng cao hiệu lực bảo đảm quyền trên thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 03 nội dung:

  1. Nêu rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong xây dựng VBQPPL như khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền và các điều kiện bảo đảm.
  2. Phân tích thực trạng bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong xây dựng VBQPPL từ năm 2016 đến nay để làm cơ sở thực tiễn xác định các hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong công tác xây dựng VBQPPL thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu cơ chế và biện pháp bảo đảm quyền của 03 nhóm đối tượng yếu thế điển hình gồm: phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, mốc thời gian đánh dấu thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/07/2016).
  • Phạm vi không gian: Không gian thể chế và thực tiễn lập pháp tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa luật nhân quyền quốc tế và lý luận về quy trình lập pháp của Việt Nam. Tác giả tiếp cận khái niệm “nhóm yếu thế” (disadvantaged groups/vulnerable groups) qua Điều 8 Tuyên ngôn Thế giới về Đạo đức sinh học và Nhân quyền của UNESCO (2005), tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), định nghĩa của Vụ Hòa nhập, Xã hội và Việc làm thuộc Ủy ban Châu Âu, cùng Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Quyền của nhóm yếu thế được xác định là bộ phận cấu thành của quyền con người với đầy đủ các thuộc tính cốt lõi: tính phổ biến (universal), tính không thể bị tước bỏ (inalienable), tính không thể phân chia (indivisible), tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent). Đồng thời, quyền của nhóm yếu thế mang tính đặc thù nhằm bù đắp những bất lợi tự nhiên hoặc xã hội.

Quy trình xây dựng VBQPPL được nghiên cứu trực tiếp dưới khuôn khổ của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nhấn mạnh bước đột phá tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản.

Về phương pháp luận, nghiên cứu vận dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng phần nội dung:

  • Phương pháp phân tích và bình luận: Sử dụng xuyên suốt toàn bộ đề tài để làm sáng tỏ các khái niệm, quy định pháp luật và luận giải sâu các khía cạnh bảo đảm quyền trong từng giai đoạn lập pháp.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 nhằm đối chiếu quan điểm của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (ICCPR, ICESCR, CEDAW, UNCRC, CRPD).
  • Phương pháp chứng minh: Ứng dụng chủ yếu tại Chương 2 thông qua việc trích dẫn số liệu thống kê thực tế, báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước nhằm chứng minh cho các nhận định về kết quả và hạn chế.
  • Phương pháp diễn giải và quy nạp: Áp dụng tại Chương 1 nhằm tổng hợp các nguyên tắc, hiện tượng pháp lý độc lập thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về điều kiện bảo đảm quyền.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, Hiến pháp năm 2013, các bộ luật và luật chuyên ngành (Bộ luật Lao động năm 2012 và 2019, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Trẻ em 2016, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015...); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2024 của Bộ Tư pháp; Báo cáo rà soát độc lập 10 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới; cùng các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu chuyên khảo của các học giả chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những vấn đề lí luận về bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm và khung lý thuyết nền tảng. Khóa luận định nghĩa nhóm yếu thế là những nhóm, cộng đồng người có vị thế chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn do đặc điểm về sức khỏe, giới tính, lứa tuổi, dân tộc..., dẫn tới hạn chế về khả năng tiếp cận, thực hiện và bảo vệ các quyền cơ bản của mình, có nguy cơ cao bị vi phạm quyền nên cần sự hỗ trợ đặc biệt từ Nhà nước và xã hội. Quyền của nhóm yếu thế mang ba đặc điểm chính:

  • Là phạm trù mang tính tự nhiên (vốn có của con người);
  • Là phạm trù mang tính xã hội (hình thành, phát triển gắn liền với cuộc đấu tranh chống áp bức, phân biệt đối xử qua các giai đoạn lịch sử);
  • Không cố định mà có tính chuyển giao tùy thuộc vào hoàn cảnh sống cụ thể của cá nhân.

Về nội dung, quyền của nhóm yếu thế bao gồm nhóm quyền dân sự - chính trị và nhóm quyền kinh tế - xã hội - văn hóa, kèm theo các cơ chế ưu tiên đặc thù được pháp luật mặc định hóa (như quyền có quốc tịch, khai sinh của trẻ em; quyền bình đẳng tố tụng và sử dụng tiếng nói, chữ viết của người DTTS).

Tác giả phân tích quy trình xây dựng VBQPPL theo Luật năm 2015 qua 04 giai đoạn: (1) Lập đề nghị xây dựng văn bản (hoạch định và đánh giá tác động chính sách); (2) Soạn thảo văn bản; (3) Thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo; (4) Trình, thảo luận, thông qua và ban hành. Việc tuân thủ quy trình này bảo đảm cho các chính sách đối với nhóm yếu thế được nhận diện sớm, đánh giá đa chiều và nội luật hóa đồng bộ. Chương 1 kết thúc bằng việc phân tích 04 nhóm điều kiện bảo đảm thực hiện: chủ trương chính sách của Đảng (đặc biệt là định hướng công tác dân tộc tại Văn kiện Đại hội XIII), khuôn khổ quy định pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội và tổ chức bộ máy cùng năng lực nguồn nhân lực.

Chương 2. Thực trạng bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn việc thực thi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 gắn với bảo đảm quyền của phụ nữ, trẻ em và người DTTS, chỉ ra các kết quả đạt được song song với những rào cản căn bản:

Về kết quả đạt được:

  • Trong giai đoạn lập đề nghị: Đánh giá tác động chính sách (RIA) từng bước đi vào nền nếp. Báo cáo thống kê chỉ ra từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII đến tháng 6/2017, Quốc hội đã thông qua 111 luật, pháp lệnh (Chính phủ trình 95 văn bản, chiếm 85,6%), trong đó có hơn 40 văn bản liên quan đến bình đẳng giới đã được cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện đánh giá tác động giới. Công tác thẩm định của Bộ Tư pháp đạt khối lượng lớn (thẩm định 44 đề nghị xây dựng VBQPPL trong năm 2023), giúp kịp thời kiến nghị hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội.
  • Trong giai đoạn soạn thảo: Ban soạn thảo và tổ biên tập đã chú trọng lồng ghép các quy định bảo vệ. Điển hình, quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 bảo đảm tỷ lệ phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ít nhất 35% đã mang lại kết quả cụ thể: tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26% (mức cao nhất từ trước đến nay). Bộ luật Lao động cấm sử dụng lao động chưa thành niên làm việc nặng nhọc, độc hại; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nghiêm cấm tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; Luật Giáo dục năm 2019 quy định chính sách dạy tiếng nói, chữ viết DTTS; Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định ưu tiên tuyển sinh, đào tạo người DTTS.
Tiêu chí so sánh Nhóm Phụ nữ Nhóm Trẻ em Nhóm Dân tộc thiểu số (DTTS)
Quy định pháp lý tiêu biểu Luật Bình đẳng giới 2006, BLLĐ 2019 (Chương X), Luật Bầu cử ĐBQH & ĐB HĐND 2015 (Điều 8). Hiến pháp 2013 (Điều 37), Luật Trẻ em 2016, BLLĐ 2012 & 2019, Luật Thanh niên 2020. Hiến pháp 2013 (Điều 5), BLDS 2015, BLTTHS 2015 (Điều 29), Luật Giáo dục 2019 (Điều 13).
Biện pháp bảo đảm cụ thể Quy định tỷ lệ ứng cử viên nữ tối thiểu 35%; bảo vệ thai sản và bình đẳng việc làm. Nghiêm cấm bóc lột lao động dưới 15 tuổi; bảo đảm khai sinh, quốc tịch, chống bạo lực. Bảo đảm tỷ lệ đại biểu dân cử; quyền dùng tiếng nói, chữ viết; ưu tiên tuyển dụng, xét tuyển công chức xã.
Thực trạng đánh giá tác động (RIA) Thực hiện lồng ghép giới ở hơn 40 luật/pháp lệnh; hồ sơ phụ lục đôi khi còn hình thức. Đánh giá tác động theo độ tuổi; phương pháp chủ yếu mang tính định tính. Chưa có quy trình đánh giá tác động văn hóa - dân tộc riêng biệt; số liệu khảo sát thiếu hụt.

Về hạn chế và nguyên nhân:

  • Hạn chế trong lập đề nghị: Cơ quan lập đề nghị còn lúng túng khi xác định chính sách và đánh giá tác động giới, tác động thủ tục hành chính. Nhiều báo cáo RIA chỉ nêu chung chung “không có tác động thủ tục hành chính” hoặc gộp nội dung kinh tế với xã hội, phương pháp đánh giá thuần túy định tính, thiếu số liệu khảo sát thực chứng. Việc lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp còn hình thức, chủ yếu đăng tải qua cổng thông tin điện tử – phương thức vốn có tỷ lệ truy cập rất thấp và không phù hợp với đồng bào DTTS ở vùng sâu, vùng xa.
  • Hạn chế trong thẩm định, thẩm tra: Hội đồng thẩm định và các cơ quan thẩm tra của Quốc hội đôi khi chưa dành sự quan tâm thỏa đáng cho báo cáo đánh giá tác động chính sách, chưa đi sâu phân tích toàn diện mức độ thụ hưởng quyền của nhóm yếu thế.
  • Nguyên nhân: Bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế - xã hội chưa đồng đều; nhận thức pháp luật của người dân yếu thế còn hạn chế; một số quy định pháp luật về quy trình còn thiếu hướng dẫn cụ thể; cơ cấu tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu và cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý (Bộ LĐ-TB&XH, Ủy ban Dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ...) còn thiếu chặt chẽ.

Chương 3. Giải pháp bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Dựa trên cấu trúc đề tài, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện trên các phương diện:

  • Giải pháp về mặt pháp lý: Tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành VBQPPL theo hướng chuẩn hóa quy trình đánh giá tác động chính sách bắt buộc đối với quyền của các nhóm yếu thế; quy định rõ ràng trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo khi không tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức đại diện cho phụ nữ, trẻ em và đồng bào DTTS; xây dựng bộ tiêu chí định lượng hóa việc đánh giá tác động giới và tác động xã hội.
  • Giải pháp về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Tăng cường thành phần chuyên gia xã hội học, luật học nhân quyền, đại diện các tổ chức xã hội tham gia Ban soạn thảo và Tổ biên tập; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng phân tích chính sách công và lồng ghép quyền con người cho cán bộ pháp chế các Bộ, ngành và địa phương.
  • Các giải pháp hỗ trợ khác:
    • Về điều kiện vật chất: Bố trí nguồn kinh phí thỏa đáng cho hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát thực tế và thu thập số liệu độc lập khi xây dựng chính sách.
    • Về cơ chế phối hợp: Thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên, ràng buộc trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với Ủy ban Dân tộc, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cơ quan bảo vệ trẻ em và các cơ quan tư pháp.
    • Về công tác truyền thông và lấy ý kiến: Đa dạng hóa hình thức lấy ý kiến phản biện xã hội; kết hợp cổng thông tin điện tử với hội thảo tham vấn trực tiếp tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, dịch thuật tài liệu dự thảo sang tiếng dân tộc thiểu số và phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, thực tiễn có giá trị về quy trình lập pháp gắn với đối tượng yếu thế:

  • Dữ liệu thực chứng cụ thể: Văn bản trích xuất các con số tin cậy như: Quốc hội thông qua 111 luật, pháp lệnh giai đoạn từ đầu khóa XIII đến tháng 6/2017 với hơn 40 văn bản được đánh giá tác động giới; việc thực thi quy định bảo đảm tỷ lệ giới thiệu ứng cử viên nữ tối thiểu 35% tại Luật Bầu cử năm 2015 đã đưa tỷ lệ nữ ĐBQH khóa XV đạt 30,26%; số liệu Bộ Tư pháp thẩm định 44 đề nghị xây dựng VBQPPL trong năm 2023 theo Báo cáo số 01/BC-BTP; cam kết quốc tế của Việt Nam với việc phê chuẩn 7/9 công ước cơ bản của Liên Hợp Quốc về quyền con người và 25 công ước của ILO.
  • Hệ thống hóa kiến nghị: Tác giả đề xuất nhóm giải pháp gắn chặt với chu trình lập pháp khép kín (từ lập đề nghị, phân tích RIA, soạn thảo, lấy ý kiến đến thẩm định, thẩm tra), không đưa ra các kiến nghị chung chung mà gắn trực tiếp với thẩm quyền của từng chủ thể lập pháp.
  • Đóng góp học thuật: Khóa luận đã phát triển hướng nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật lập pháp dưới lăng kính quyền con người. So với các công trình trước đây vốn chỉ tiếp cận quyền của nhóm yếu thế dưới góc độ lý luận bảo hộ quyền dân sự hoặc chính sách xã hội đơn thuần, đề tài đã gắn kết chặt chẽ quyền của phụ nữ, trẻ em và người DTTS vào từng khâu kỹ thuật pháp lý quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu 03 nhóm đối tượng cụ thể gồm phụ nữ, trẻ em và người dân tộc thiểu số; chưa bao quát toàn diện các nhóm yếu thế khác như người khuyết tật, người cao tuổi, người nhiễm HIV hay lao động di cư. Đồng thời, phạm vi khảo sát thực tiễn chủ yếu tập trung ở các đạo luật do Quốc hội ban hành ở cấp trung ương, chưa đào sâu đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND các cấp ở địa phương.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu có thể mở rộng khảo sát cơ chế xây dựng chính sách đặc thù cho người khuyết tật theo Công ước CRPD; đánh giá tác động xã hội hậu ban hành (ex-post RIA) đối với các VBQPPL liên quan đến người yếu thế; hoặc nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá lồng ghép quyền con người trong hoạt động lập quy ở chính quyền địa phương.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các bộ môn Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hành chính và Luật Nhân quyền. Đề tài cũng cung cấp tư liệu tham khảo thực tế cho cán bộ pháp chế tại các Bộ, ngành, chuyên viên tham mưu chính sách tại Ủy ban Dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cơ quan làm công tác thẩm định, thẩm tra văn bản pháp luật.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 với các phân tích chi tiết về quy trình đánh giá tác động chính sách (RIA) và những bất cập trong việc tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong khóa luận, tác giả tập trung nghiên cứu việc bảo đảm quyền của những nhóm đối tượng yếu thế cụ thể nào?
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên sâu vào 03 nhóm đối tượng yếu thế điển hình tại Việt Nam gồm: phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

2. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ khóa XV đạt được kết quả cụ thể ra sao nhờ quy định lồng ghép giới trong Luật Bầu cử năm 2015?
Nhờ quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ), tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV đã đạt 30,26% – tỷ lệ đại biểu nữ cao nhất trong các khóa Quốc hội từ trước đến nay.

3. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn, giai đoạn từ đầu khóa XIII đến tháng 6/2017 có bao nhiêu văn bản luật, pháp lệnh được đánh giá tác động giới?
Trong giai đoạn này, Quốc hội đã thông qua 111 luật, pháp lệnh (100 luật và 11 pháp lệnh, trong đó Chính phủ trình 95 văn bản). Trong số 111 văn bản đó, có khoảng hơn 40 luật, pháp lệnh có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới đã được cơ quan chủ trì soạn thảo tiến hành đánh giá tác động về giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới.

4. Phương thức lấy ý kiến đóng góp cho đề nghị và dự thảo VBQPPL hiện nay bộc lộ rào cản gì đối với đồng bào dân tộc thiểu số?
Việc lấy ý kiến hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng cách đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước. Hình thức này có tỷ lệ truy cập rất thấp, mang tính một chiều và không phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng thông tin, rào cản ngôn ngữ cũng như thói quen tiếp cận văn bản của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.

5. Báo cáo công tác tư pháp năm 2023 của Bộ Tư pháp được đề tài trích dẫn phản ánh con số thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL như thế nào?
Theo Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2024 của Bộ Tư pháp được trích dẫn trong văn bản, trong năm 2023 Bộ Tư pháp đã tiến hành thẩm định 44 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, qua đó rà soát và kiến nghị hoàn thiện nhiều chính sách liên quan đến bảo đảm quyền của nhóm yếu thế.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hà Trang đã luận giải toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền của nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số) trong quy trình lập pháp theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015. Công trình chỉ rõ những bước tiến trong kỹ thuật đánh giá tác động chính sách và lồng ghép tỷ lệ đại biểu nữ, đồng thời thẳng thắn vạch ra các điểm nghẽn về tính hình thức trong khâu lấy ý kiến tham vấn cộng đồng. Hệ thống giải pháp đề xuất từ góc độ hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, nâng cao năng lực bộ máy và tăng cường ngân sách điều tra xã hội học có giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần thúc đẩy mục tiêu xây dựng một nền lập pháp vì con người và không để ai bị bỏ lại phía sau.