phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chƣơng. 6 c CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI THƢƠNG BỆNH BINH 1. Khái niệm chính sách xã hội và vai trò của chính sách xã hội 1. Khái niệm chính sách xã hội Chính sách xã hội là một “thuật ngữ đƣợc dùng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu cho thấy khái niệm chính sách”đƣợc thể hiện nhiều cách khác nhau: Theo V.Z Ro-go-vin: “Chính sách xã hội là lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thông về các quá trình xã hội, quyết định hoạt động sống của con ngƣời trong xã hội, xét theo khả năng tác động, quản lý đến các quá trình đó. Có đầy đủ cơ sở để xem xét chính sách xã hội nhƣ là sự hoà quyện của khoa học thực tiễn, nhƣ là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận động thực tiễn những tri thức thu nhận đƣợc nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy” [25; Tr10 – 11].Winkler, nguyên viện trƣởng Viện xã hội học và chính sách xã hội (thuộc Cộng hoà dân chủ Đức cũ) cho rằng: “Chính sách xã hội là tổng hoà các biện pháp và phƣơng pháp của Đảng, của giai cấp công nhân, của Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, của các liên hợp công đoàn, của các đảng phải và các tổ chức chính trị khác, nhằm tiếp tục xây dựng quan hệ xã hội… phục vụ cho những yêu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tri thức và những ngƣời lao động khác”. Theo giáo sƣ Anthoay Giddens nhà xã hội học Mỹ thì chính sách xã hội là “sự nghiên cứu có hiệu quả về xã hội học, khoa học chính trị và khoa học kinh tế, đƣợc chờ đợi nhằm biến đổi hoạch định chính sách trong chính phủ và do đó dẫn đến tiến bộ xã hội và thịnh vƣợng kinh tế. Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách đƣợc xem nhƣ một công cụ, một phƣơng tiện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu quả”.
Trong “Lý thuyết xã hội và xã hội học hiện đại”, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1980: “Nhƣ vậy có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phƣơng thức, 7 c các biện pháp của Nhà nƣớc, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình độ phát triển đất nƣớc về kinh tế, văn hoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc”. Nhƣ vậy có thể hiểu: “Chính sách xã hội là sự tác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đằng và cổng bằng xã hội trong một bổi cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định”. Chính sách xã hội của Nhà nƣớc đƣợc chia ra nhƣ sau: Thứ nhất, lĩnh vực đời sống lao động gồm:“Chính sách“bảo vệ ngƣời lao động; Chính sách bảo hiểm xã hội; Chính sách thị trƣờng lao động; Chính sách khuyến khích”doanh”nghiệp.
Thứ hai, lĩnh vực định hướng cho từng nhóm người riêng biệt gồm: Chính sách“xóa đói giảm nghèo; Chính sách đối với ngƣời có công với cách mạng; Chính sách gia đình; Chính sách thanh niên; Chính sách trợ giúp ngƣời già; Chính sách khuyến khích ngƣời lao động”trong khu vực nông nghiệp, lao động thủ công, ngƣời tự hành nghề. Lĩnh vực khác: Chính sách giáo dục; Chính sách nhà ở. Một số chính sách xã hội khác, đặc biệt là lĩnh vực các chính sách quan trọng:“Chính sách“thi đua, cạnh tranh; Chính sách bảo vệ tiêu dùng; Chính sách môi trƣờng; Chính sách ổn định, đặc biệt là chính sách”bình ổn giá cả. Vai trò của chính sách xã hội Có thể thấy chính sách xã hội là một yếu tố quan trọng của xã hội.
Những chính sách xã hội đảm bảo quá trình phát triển, giảm khoảng cách chênh lệch, phân hóa giai cấp, tạo ra sự công bằng xã hội khi nó đi vào giải quyết các vấn đề của xã hội trong quá trình phát triển. Những chính sách xã hội lấy con ngƣời là trọng tâm, làm đối tƣợng giải quyết các vấn đề dựa trên cơ sở“đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc hoặc các tổ chức chính trị khác, đoàn thể. Chính sách xã hội giữ vai trò quan trọng”đối với xã hội, đảm bảo cho một đất nƣớc phát triển ổn định. Chính sách xã hội có vai trò trong việc định hướng sự phát triển xã hội: Những chính sách xã hội bao gồm những giải pháp, quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc đối với đời sống của nhân dân.
Chính sách xã hội“nói chung có nhiệm vụ là giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo ổn”định trật tự, góp phần giảm xung đột và bất công bằng trong xã hội. Những chính sách xã hội khi ra đời cần đi theo đúng đƣờng lối, chủ trƣơng, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về sự phát triển, vấn đề quan tâm. Hay nói cách khác, các chính sách xã hội giải quyết vấn đề xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Yếu tố định hƣớng đƣợc hiểu nhƣ là sự hƣớng dẫn, dẫn dắt, kiểm soát vấn đề đi theo đúng quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, giải quyết các vấn đề trên cơ sở phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Chính sách xã hội đóng vai trò là công cụ của Nhà nƣớc trong việc phản ánh thực tại khách quan của đời sống xã hội, phù hợp với các đặc điểm, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong giai đoạn lịch sử nhất định, tạo sự phát triển bền vững cho xã hội. Bởi vậy, các chính sách xã hội là cơ sở, tiền đề định hƣớng sự phát triển đời sống xã hội trong một thời điểm, giai đoạn phát triển nhất định. Các chính sách xã hội cùng những đặc trƣng cơ bản của nó, giúp mọi ngƣời hiểu rõ hơn về những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện, tổ chức nhằm phát triển toàn xã hội. Do vậy, chính sách xã hội đóng vai trò định hƣớng cho các hoạt động của đời sống xã hội.
9 c Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội: Chính sách xã hội đóng vai trò tạo tiền đề và điều kiện để phát triển xã hội, nó hƣớng vào giải quyết những vấn đề tồn đọng, nảy sinh trên mọi lĩnh vực nhằm tạo một môi trƣờng hoạt động lành mạnh. Có thể nhắc tới các chính sách xã hội giảm nghèo, công bằng xã hội trong khu vực dân tộc thiểu số, ngƣời khuyết tật, khu vực khó khăn, ngƣời nghèo, vấn đề về dân số, lao động việc làm, kinh tế… đã tạo tiền đề, điều kiện để mọi hoạt động trong xã hội phát triển hơn. Giảm tỷ lệ hộ nghèo, thất học, bình đẳng giới, việc làm,… Nhƣ vậy, có thể thấy các chính sách xã hội đã tạo tiền đề nền tảng cho xã hội phát triển bằng cách mở đƣờng, giải quyết vấn đề khó khăn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các chính sách xã hội tạo tiền đề kinh tế cho phát triển xã hội.
Các chính sách xã hội về kinh tế đã phần nào giải quyết những khó khăn nảy sinh trong các lĩnh vực đời sống xã hội nhƣ thiếu thốn cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ thông tin, thiếu nguồn vốn đầu tƣ. Chính sách xã hội có vai trò ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội: Các chính sách xã hội là những tác động của Nhà nƣớc tới nhân dân, thể hiện thông qua việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống khác nhau của nhiều đối tƣợng và các nhóm xã hội khác nhau trên tất cả các lĩnh vực nhƣ việc làm, dân số, sức khỏe, giáo dục,… dựa“trên cơ sở mở rộng, công bằng xã hội trong bối cảnh lịch sử”và xã hội nhất định. Chính sách xã hội đối với thƣơng bệnh binh 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với thương bệnh binh Đảng và Nhà nƣớc ta luôn có một chủ trƣơng nhất quán về việc ƣu đãi và chăm sóc ngƣời có công nói chung và thƣơng bệnh binh nói riêng.
Hệ thống pháp luật, chính sách đối với ngƣời có công đã, đang đƣợc hoàn thiện và đƣợc thực hiện đồng bộ. 10 c Ngày 16 tháng 2 năm 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL, đây là văn bản pháp luật đầu tiên về ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng tại Việt Nam. Sau đó ngày 12 tháng 10 năm 1948 đã đƣợc bổ sung bằng Sắc lệnh số 242/SL, qui định tiêu chuẩn xác nhận thƣơng binh, thực hiện chế độ “lƣơng hƣu thƣơng tật” đối với thƣơng binh. Các văn bản pháp luật nhằm“ƣu đãi thƣơng binh, gia đình liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Pháp còn đơn giản, nội dung còn mang tính hƣớng dẫn là chủ yếu, tính pháp luật chƣa cao; trợ cấp chỉ mang tính chất tƣợng trƣng”do khả năng kinh tế lúc bấy giờ và do hoàn cảnh kháng chiến còn nhiều khó khăn, gian khổ.
Vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã khái quát về quan điểm và chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với vấn đề có tầm chiến lƣợc này: “ Phải đối đãi với những ngƣời, những gia đình liệt sĩ và thƣơng binh nhƣ là những ngƣời đã có cống hiến rất lớn, rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng, đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nƣớc của nhân dân.; đó là một vấn đề rất quan trọng., một vấn đề chính trị, một vấn đề tƣ tƣởng, một vấn đề tình cảm, một vấn đề xã hội, một trong những vấn đề lớn của nƣớc ta…, một vấn đề của tất cả chúng ta, một vấn đề lớn của Đảng ta, Nhà nƣớc ta, của các tổ chức quần chúng, một vấn đề của các cơ quan có trách nhiệm ở Trung ƣơng và của cơ quan có trách nhiệm ở địa phƣơng, của tỉnh, của huyện, của xã. Một vấn đề mà không cho phép một ngƣời Việt Nam nào không quan tâm, nếu ngƣời Việt Nam đã quan tâm đến sự nghiệp cách mạng của nƣớc ta, của dân ta, quan tâm đến sự nghiệp chống Mỹ cứu nƣớc của chúng ta hiện nay”.