Chương 1: Những vấn đề chung về soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp bộ. Trong chương này chúng tôi tập trung nghiên cứu và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan bộ; các khái niệm, đặc điểm và thâm quyền ban hành VBQPPL của các bộ; nghiên cứu các yêu cầu về soạn thảo và ban hành VBQPPL; thủ tục, quy trình soạn thao và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ. Chương 2: Tình hình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp bộ. Trong chương 2 trình bày tình hình thực tế về công tác chỉ đạo, hướng dẫn soạn thảo và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ; việc lập chương trình, kế hoạch xây dựng và ban hành VBQPPL; tô chức soạn thảo và ban hành VBQPPL; công tác kiểm tra, xử lý và hệ thống hoá VBQPPL ở các cơ 11 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh Cưởng quan cấp bộ; đánh giá những ưu điểm, tồn tại và những nguyên nhân tồn tại trong soạn thảo và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan bộ. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về soạn thảo và ban hành văn bản của các cơ quan cấp bộ trình bày ở trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác này ở các cơ quan cấp bộ. Trong đó có các giải pháp mang tính tổng thé như xây dựng và hoàn thiện thể chế về soạn thảo và ban hành VBQPPL; các giải pháp mang tính nghiệp vụ như: đôi mới quy trình, thủ tục soạn thảo và ban hành VBQPPL; cải tiến phương thức hợp tác và phân công nhiệm vụ; quy hoạch, đảo tạo đội ngũ cán bộ làm công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đầu tư kinh phí; ứng dụng công nghệ hành chính hiện đại vào công tác soạn thảo và ban hành VBQPPL để hoàn thiện và nâng cao chất lượng hiệu quả công tác này trong hoạt động lập quy của các cơ quan cấp bộ. Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi có được những thuận lợi là được sự giúp đỡ của cán bộ các cơ quan đến khảo sát.
Đặc biệt là sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Nhà giáo ưu tú — PGS. Vuong Dinh Quyên - người hướng dẫn tôi làm luận văn này. Bên cạnh những thuận lợi, chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn về mặt khảo sát va tìm hiểu thực tiễn ở nhiều co quan bộ. Việc tiếp cận va xin tư liệu có những giới hạn nhất định do thời gian hạn hẹp và những quy định của cơ quan đến khảo sát.
Đồng thời đây là đề tài mới nên tài liệu nghiên cứu, tham khảo về vấn đề này không nhiều và mang tính rời lẻ. Ngoài ra, số lượng văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan cấp bộ soạn thảo và ban hành lớn nên việc nghiên cứu cũng không thê tiếp cận hết. Với những khó khăn trên, chắc chan sẽ làm cho luận văn này không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Do đó chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn quan tâm dé luận văn hoan thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người đã giúp tôi trong quá trình làm luận văn, đặc biệt là Nhà giáo ưu tú — PGS. Vương Đình Quyền là 12 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh Cưởng người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2005 Học viên Nguyễn Mạnh Cường 13 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh Cưởng B. PHAN NOI DUNG Chuong 1: NHUNG VAN DE CHUNG VE SOAN THAO VA BAN HANH VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT CUA CAC CO QUAN CAP BO 1.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền han của các cơ quan cấp bộ. Theo Luật Tổ chức Chính phủ, bộ và cơ quan ngang bộ (gọi chung là các cơ quan cấp bộ) có vị trí và chức năng như sau: Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật [31]. Đề cụ thé hóa quy định trên, ngày 05/11/2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/2002 /ND-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền han và cơ cau tô chức của bộ, cơ quan ngang bộ. Trong đó có quy định cụ thé về nhiệm vụ quyền hạn của bộ và bộ trưởng về các lĩnh vực như: Pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, hợp tác quốc tế, cải cách hành chính; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần von của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước; quản lý nhà nước các tổ chức thực hiện dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, các tô chức kinh tế tập thé và kinh tế tư nhân, các hoạt động của hội, tô chức phi Chính phủ thuộc ngành, lĩnh vực hoạt động phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh, tô chức bộ máy và cán bộ công chức, viên chức nhà nước; thanh tra, kiểm tra; quản lý tài chính, tài sản [44].
Trên cơ sở những quy định pháp lý chung nói trên, các bộ, cơ quan ngang bộ được Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ cụ thé, ví dụ: - Bộ Tu pháp là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quan lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật, kiếm tra VBQPPL, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và công tác tư pháp khác trong phạm vi cả nước; thực hiện quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý cua Bộ theo quy định của pháp luật [54]. 14 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh Cưởng - Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; tô chức chính quyền địa phương, quản lý địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; tô chức hội và tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật [49]. - Bộ Thương mại là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thương mại; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quan ly của Bộ theo quy định của pháp luật [60]. Các cơ quan cấp bộ là một trong những chủ thể có quyền lập quy liên quan đến những van đề thuộc phạm vi quản lí có tinh chất nội bộ ngành, lĩnh vực hoặc những van dé được Chính phủ uỷ quyên.
Đề thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn và thâm quyền nói trên, các VBQPPL do cơ quan cấp bộ soạn thảo và ban hành có vai trò quan trọng đối với hoạt động quản lí nhà nước nói chung và hoạt động lập quy nói riêng. Khái niệm, đặc điểm và thắm quyền ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ. Khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật. Trong xã hội có nhà nước, hầu hết các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng pháp luật.
Tuy nhiên không phải toàn bộ các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống xã hội đều được nhà nước điều chỉnh. Tuỳ theo mục đích, yêu cầu quản lí của nhà nước và các thiết chế xã hội để xác định quan hệ xã hội nào cần điều chỉnh bằng pháp luật và quan hệ nào dành cho các quy phạm xã hội điều chỉnh. Pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự thé hiện ý chí của nhà nước có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được nhà nước đảm bảo thực hiện bang sức mạnh cưỡng chế [29;268]. Dé điều chỉnh những quan hệ xã hội bằng pháp luật, nhà nước phải sử dụng văn ban quản li nhà nước dé làm phương tiện.
Trong đó, nhóm văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng đê thê hiện ý chí của nhà nước và tính quyên lực của nhà nước. Nhóm văn 15 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh Cưởng bản này được nhà nước đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước và được các chủ thé quản lí ban hành dé áp đặt đối với đối tượng quản li. Văn bản quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phô biến va tạo nên hệ thống pháp luật. Khái niệm về "Văn bản quy phạm pháp luật" (VBQPPL) được nêu trong Điều 1 của Luật sửa đổi, b6 sung một số điều của Luật BHVBQPPL do Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 (gọi chung là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật), có hiệu lực từ ngày 27/12/2002 như sau: “Van bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyên ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
” Theo quy định của Luật sửa đôi bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL năm 2002, VBQPPL gồm: Hiến pháp, pháp lệnh, lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư, thông tư liên tịch, nghị quyết liên tịch. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật phải có đầy đủ các yếu tố và đặc điểm Sau: - Thứ nhất, văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyên ban hành theo hình thức quy định. Khác với các loại văn bản quản lí nhà nước khác, văn bản quy phạm pháp luật phải do co quan nhà nước, người có thâm quyền ban hành theo quy định tại Điều 1 của Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đặc điểm nảy liên quan tới thâm quyền ban hành VBQPPL.
- Thứ hai, văn ban quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục, trình tự và thể thức do luật định. Đây là đặc điểm phân biệt với các hình thức văn bản khác về thẩm quyên, thủ tục, trình tự và thé thức.