Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) giữ vai trò nền tảng đối với hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn ban hành văn bản vẫn tồn tại tình trạng quy định có dấu hiệu trái pháp luật, vi phạm thẩm quyền, sai sót về trình tự, thủ tục hoặc thiếu tính khả thi nhưng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời. Trước bối cảnh Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản hướng dẫn thi hành đặt ra nhiều yêu cầu mới, tác giả Nguyễn Bảo Hân (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hành chính với đề tài: "Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp", dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Uyên.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm đánh giá thực trạng quy định pháp luật và hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL tại Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích cơ sở lý luận của hoạt động kiểm tra và xử lý VBQPPL; làm rõ khái niệm, thẩm quyền, quy trình, nội dung và các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng VBQPPL;
  2. Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra và xử lý VBQPPL, nhận diện dấu hiệu văn bản trái pháp luật và các biện pháp xử lý tương ứng;
  3. Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay, chỉ rõ thành tựu, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân;
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra và xử lý VBQPPL trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động kiểm tra và xử lý VBQPPL ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung trên lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian từ năm 2020 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2023), có liên hệ số liệu giai đoạn 2016–2019; phạm vi nội dung giới hạn ở hoạt động kiểm tra, xử lý đối với VBQPPL do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp ban hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong quá trình triển khai, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học pháp lý nhằm đảm bảo tính khái quát lý luận gắn liền với dữ liệu thực tiễn.

Khung pháp lý được sử dụng xuyên suốt đề tài bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013;
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản tiền nhiệm (Luật năm 2008, Luật năm 2004 đối với HĐND, UBND);
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP);
  • Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và Nghị định số 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra, xử lý VBQPPL;
  • Nghị quyết số 1139/2007/UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kỹ thuật trình bày dự thảo VBQPPL;
  • Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL;
  • Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp;
  • Các luật liên quan gồm: Luật Cán bộ, công chức; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Nguồn dữ liệu thực chứng trong khóa luận được trích xuất từ các báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Tư pháp, Cục Kiểm tra VBQPPL, Văn phòng Chính phủ, cùng dữ liệu báo cáo chuyên đề tại một số địa phương (Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ, Phú Yên, Bình Định, Bình Phước).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy phạm pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL:

  • Khái niệm và đặc điểm của VBQPPL: Căn cứ Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khóa luận phân tích 4 đặc điểm cốt lõi: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; chứa đựng quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung; được ban hành đúng hình thức quy định; tuân thủ trình tự, thủ tục luật định. Khóa luận làm rõ các tiêu chí đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp (thẩm quyền hình thức, thẩm quyền nội dung, căn cứ pháp lý, trình tự thủ tục, thể thức - kỹ thuật trình bày) và tính thống nhất nội tại của văn bản.
  • Lý luận về kiểm tra VBQPPL: Theo khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, kiểm tra VBQPPL là việc xem xét, đánh giá, kết luận tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và xử lý văn bản trái pháp luật. Tác giả phân tích 5 nguyên tắc kiểm tra tại Điều 105 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (toàn diện, kịp thời, khách quan, minh bạch, đúng thẩm quyền, không vụ lợi); phân biệt 2 phương thức: tự kiểm tra (cơ quan ban hành tự rà soát văn bản của mình) và kiểm tra theo thẩm quyền (kiểm tra văn bản do cơ quan khác gửi đến, kiểm tra theo phản ánh kiến nghị, kiểm tra theo địa bàn, kiểm tra theo chuyên đề/ngành/lĩnh vực).
  • Lý luận về xử lý VBQPPL: Khóa luận phân loại các dạng khiếm khuyết phải xử lý theo khoản 2 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (sai thẩm quyền, nội dung trái văn bản cấp trên, sai căn cứ pháp lý, vi phạm thể thức, trình tự thủ tục) và làm rõ các hình thức xử lý văn bản (đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế).
  • Các yếu tố tác động: Tác giả phân tích 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động: yếu tố nhận thức; thể chế pháp lý; tổ chức bộ máy và cán bộ; kinh phí và điều kiện bảo đảm (theo Thông tư liên tịch 122/2011/TTLT-BTC-BTP); cơ chế phối hợp và tác động từ dư luận, báo chí.

Chương 2: Thực trạng kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 cung cấp bức tranh thực tiễn chi tiết dựa trên số liệu từ các cơ quan trung ương và địa phương trong giai đoạn 2016–2023:

  • Kết quả tự kiểm tra:
    • Tại Hà Nội (năm 2016): Đã tự kiểm tra 43 VBQPPL của UBND Thành phố, lập Đoàn kiểm tra liên ngành tại 6 quận, huyện (Đông Anh, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Hoàng Mai, Đống Đa, Hà Đông), thu thập và kiểm tra 472 văn bản của HĐND-UBND cấp huyện, phát hiện 116 văn bản trái pháp luật (như Công văn số 1823/TB-QHKT, Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND).
    • Tại Hải Phòng: Giai đoạn 2016–2017 phát hiện 15/75 VBQPPL của UBND Thành phố có nội dung chưa phù hợp; đến giai đoạn 2018–2019, 100% trong số 78 VBQPPL được rà soát đã bảo đảm tính hợp pháp; kiểm tra tại 7 quận/huyện và 25 xã/phường năm 2018 phát hiện 11 văn bản sai sót, năm 2019 giảm xuống còn 01 văn bản.
  • Kết quả kiểm tra theo thẩm quyền: Số liệu xử lý văn bản trái pháp luật trên quy mô cả nước và của Cục Kiểm tra VBQPPL (Bộ Tư pháp) được thống kê qua bảng sau:
Năm Tổng số VB kiểm tra theo thẩm quyền (Bộ Tư pháp) Số VB trái pháp luật phát hiện / kết luận (Bộ Tư pháp) Tỷ lệ xử lý VB trái pháp luật trên toàn quốc (%) Tình hình xử lý cụ thể của Bộ Tư pháp
2019 5.161 VB (459 cấp bộ, 4.702 cấp tỉnh) 68 VB (06 cấp bộ, 62 cấp tỉnh) + 225 VB sai thể thức, kỹ thuật 41,53% (xử lý 287/691 VB) Đã xử lý 53 VB, còn 15 VB đang theo dõi đôn đốc xử lý
2020 Không nêu tổng số kiểm tra Không nêu chi tiết 36,67% (xử lý 88/240 VB) Theo dõi xử lý theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực
2021 4.219 VB (451 cấp bộ, 3.768 cấp tỉnh) 80 VB trái thẩm quyền/nội dung (09 cấp bộ, 71 cấp tỉnh; 12 VB chứa QPPL) 66,23% (xử lý 202/305 VB) Đến ngày 01/4/2023 đã xử lý xong 65/80 VB
2022 5.368 VB (614 cấp bộ, 4.754 cấp tỉnh; 3.582 ban hành năm 2022) 200 VB (22 cấp bộ, 178 cấp tỉnh; gồm 162 VBQPPL và 38 VB chứa QPPL) 77,15% (xử lý 368/477 VB) Đến ngày 28/4/2023 đã xử lý xong 156/200 VB
  • Xử lý văn bản theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ:
    • Công văn số 4333/VPCP-PL ngày 01/6/2020: Đôn đốc xử lý 38 văn bản trái pháp luật phát hiện trước năm 2020; kết quả xử lý xong 28 văn bản, còn 10 văn bản chưa xử lý dứt điểm do tính chất phức tạp.
    • Công văn số 3338/VPCP-PL ngày 20/5/2021: Đôn đốc xử lý 08 văn bản; đã xử lý xong 05 văn bản (gồm Thông tư số 36/2017/TT-BQP của Bộ Quốc phòng; 02 Nghị quyết số 100/2014/NQ-HĐND và số 55/2012/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Phú Yên; 02 Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND và số 15/2014/QĐ-UBND của UBND TP Cần Thơ); 03 văn bản đang hoàn tất thủ tục xử lý (Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH, Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT, Thông tư số 11/2019/TT-BKHĐT).
    • Công văn số 3590/VPCP-PL ngày 09/6/2022: Đã xử lý toàn bộ 03 văn bản được chỉ đạo gồm Thông tư số 53/2020/TT-BCT của Bộ Công Thương (được bãi bỏ bởi Thông tư số 30/2022/TT-BCT), Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định (sửa đổi bằng Quyết định số 09/2022/QĐ-UBND), Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Phước (thay thế bằng Quyết định số 15/2022/QĐ-UBND).
    • Kiểm tra 02 chuyên đề năm 2023 phục vụ Quốc hội Khóa XV: Chuyên đề nguồn lực phòng chống dịch COVID-19, y tế cơ sở và Chuyên đề 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021–2025.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Hạn chế: Một số cơ quan cấp bộ và địa phương chưa chủ động kiểm tra theo thẩm quyền, không gửi kết luận kiểm tra về Bộ Tư pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; việc xử lý văn bản trái pháp luật còn chậm trễ; chế độ báo cáo thống kê định kỳ chưa nghiêm túc.
    • Nguyên nhân khách quan: Thể chế còn khoảng trống, thiếu chế tài xử lý trách nhiệm cá nhân, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật (Luật Cán bộ, công chức chưa có thủ tục xử lý cụ thể cho hành vi này; Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định trách nhiệm bồi thường khi ban hành VBQPPL sai); Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã bãi bỏ thẩm quyền đình chỉ văn bản trái pháp luật của UBND cấp tỉnh mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp từng được giao tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP; thiếu cơ chế tài phán ngoài hệ thống hành chính.
    • Nguyên nhân chủ quan: Năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức pháp chế, tư pháp chưa đồng đều; biên chế mỏng; nguồn kinh phí và cơ sở vật chất ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng khối lượng văn bản lớn.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tác giả đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Nâng cao nhận thức: Tăng cường quán triệt về vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, xử lý văn bản đối với việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống văn bản.
  2. Hoàn thiện thể chế: Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật nhằm xác định rõ trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý đối với cán bộ, công chức tham mưu, thẩm định, ban hành văn bản sai trái; bổ sung quy định bồi thường thiệt hại do VBQPPL sai trái gây ra vào Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; khôi phục và mở rộng thẩm quyền đình chỉ văn bản trái pháp luật cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp; hoàn thiện quy trình kiểm tra, xử lý.
  3. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc thực hiện nghiêm túc quy định tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền; chấp hành đúng thời hạn xử lý văn bản sau khi có kết luận kiểm tra.
  4. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nhân sự: Củng cố cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm tra VBQPPL, các tổ chức pháp chế Bộ, ngành và cơ quan Tư pháp địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp); đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho công chức; phát triển mạng lưới cộng tác viên kiểm tra văn bản theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
  5. Bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất: Bố trí ngân sách thỏa đáng theo Thông tư liên tịch 122/2011/TTLT-BTC-BTP; nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và ứng dụng công nghệ thông tin trong đối chiếu, rà soát văn bản.
  6. Tăng cường cơ chế phối hợp và truyền thông: Thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa hoạt động kiểm tra văn bản với công tác soạn thảo, thẩm định và theo dõi thi hành pháp luật; tăng cường phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông nhằm kịp thời tiếp nhận phản ánh từ xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật, thực tiễn cụ thể:

  • Về mặt số liệu thực tiễn: Khóa luận tổng hợp và làm rõ các dữ liệu định lượng quan trọng giai đoạn 2019–2022, phản ánh sự cải thiện trong tỷ lệ xử lý văn bản trái pháp luật trên toàn quốc từ 41,53% (năm 2019) lên 66,23% (năm 2021) và đạt 77,15% (năm 2022). Khóa luận cũng ghi nhận kết quả kiểm tra của Bộ Tư pháp đối với hơn 5.000 văn bản mỗi năm và tiến độ xử lý dứt điểm các văn bản trái pháp luật theo các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Thường trực (Công văn 4333/VPCP-PL, Công văn 3338/VPCP-PL, Công văn 3590/VPCP-PL).
  • Về mặt giải pháp: Đưa ra các đề xuất lập pháp cụ thể, nổi bật là việc kiến nghị sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bao quát trường hợp ban hành VBQPPL sai trái gây thiệt hại, và kiến nghị sửa đổi Nghị định số 34/2016/NĐ-CP nhằm trao lại quyền đình chỉ văn bản trái pháp luật của cấp tỉnh cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
  • Về mặt khoa học pháp lý: Tác giả đã hệ thống hóa các tiêu chí nhận diện văn bản khiếm khuyết, phân định ranh giới giữa kiểm tra văn bản (biện pháp "chống" sau ban hành) với thẩm định, thẩm tra (biện pháp "phòng" trước ban hành), bổ sung luận cứ thực tiễn cho ngành Luật Hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn nghiên cứu được xác định theo nội dung văn bản:

  • Hạn chế về phạm vi và dữ liệu: Đề tài chủ yếu tập trung vào hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL của các cơ quan hành chính nhà nước (các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp) và HĐND, chưa đi sâu vào cơ chế giám sát văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hay vai trò của hệ thống cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân) đối với văn bản quy phạm. Nguồn số liệu thực chứng chi tiết tập trung từ năm 2020 đến đầu năm 2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu mô hình cơ quan tài phán hiến pháp/hành chính độc lập ngoài hệ thống hành chính để phán quyết tính hợp pháp của VBQPPL; xây dựng cơ chế định lượng mức độ lỗi và xác định trách nhiệm bồi thường cụ thể của Nhà nước khi ban hành chính sách sai quy định.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Đặc biệt là các ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật; cung cấp tài liệu tham khảo cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu về quy trình lập quy, kỹ thuật lập pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước.
  • Cán bộ, công chức làm công tác pháp chế và tư pháp: Công chức tại Cục Kiểm tra VBQPPL (Bộ Tư pháp), Vụ/Phòng Pháp chế các Bộ, ngành, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp huyện trong việc nắm bắt quy trình kiểm tra, thẩm quyền và kỹ năng nhận diện các dạng vi phạm trong VBQPPL.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng tổng hợp số liệu kiểm tra thực tế tại Chương 2 và các phân tích pháp lý về bất cập thể chế liên quan đến thẩm quyền đình chỉ văn bản và trách nhiệm bồi thường nhà nước tại Chương 1 và Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khóa luận, thẩm quyền xử lý VBQPPL trái pháp luật của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP có điểm gì thay đổi so với Nghị định số 40/2010/NĐ-CP? Tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP (khoản 2 Điều 17), Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền trực tiếp đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật do UBND cấp tỉnh ban hành liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, quy định này đã bị loại bỏ tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; theo đó, Bộ Tư pháp chỉ có quyền kết luận, kiến nghị và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, làm giảm tính kịp thời trong việc ngăn chặn hậu quả của văn bản sai phạm.

2. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành có điều chỉnh trách nhiệm bồi thường khi cơ quan nhà nước ban hành VBQPPL trái pháp luật không? Theo phân tích tại Chương 2 của khóa luận, Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Luật chưa xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khi cơ quan nhà nước ban hành VBQPPL sai trái.

3. Khóa luận nêu những trường hợp vi phạm thẩm quyền phổ biến nào trong VBQPPL của chính quyền địa phương cấp tỉnh? Qua số liệu kiểm tra của Bộ Tư pháp, khóa luận chỉ ra các vi phạm phổ biến của cấp tỉnh gồm: (1) Quy định giá cụ thể đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc khung giá của cấp trên; (2) Tự ý đặt ra điều kiện đầu tư kinh doanh (điển hình trong văn bản về dạy thêm, học thêm); (3) Tự ban hành thủ tục hành chính khi không được luật giao quyền; (4) UBND ban hành nội dung thuộc thẩm quyền của HĐND cùng cấp; (5) Tự đặt ra các khoản thu về giá dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

4. Kết quả xử lý 38 văn bản trái pháp luật theo Công văn số 4333/VPCP-PL của Văn phòng Chính phủ đạt mức độ nào? Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình tại Công văn số 4333/VPCP-PL ngày 01/6/2020, Bộ Tư pháp đã theo dõi, đôn đốc xử lý 38 văn bản trái pháp luật phát hiện trước năm 2020. Kết quả ghi nhận đã xử lý xong 28 văn bản; còn 10 văn bản chưa xử lý dứt điểm do nội dung phức tạp hoặc phải chờ văn bản mới của cơ quan trung ương làm căn cứ ban hành.

5. Đề tài kiểm tra chuyên đề năm 2023 của Bộ Tư pháp gắn liền với nội dung giám sát nào của Quốc hội Khóa XV? Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch kiểm tra văn bản theo 02 chuyên đề từ tháng 3/2023 đến tháng 7/2023 để phục vụ chương trình giám sát của Quốc hội theo Nghị quyết số 31/2022/QH15 và Nghị quyết số 52/2022/QH15, gồm: (1) Việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực phục vụ phòng chống dịch COVID-19, chính sách y tế cơ sở và y tế dự phòng; (2) Việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về 3 Chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2025/2030).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Bảo Hân đã giải quyết một cách có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn các vấn đề pháp lý xoay quanh công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích nguồn dữ liệu phong phú từ Bộ Tư pháp và các địa phương giai đoạn 2016–2023, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế về thẩm quyền, chế tài xử lý trách nhiệm cán bộ và cơ chế bồi thường nhà nước. Các kiến nghị được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện pháp luật về ban hành và kiểm soát chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn hiện nay.