Phần mở đầu của văn bản thường nêu lên mục đích, lí do ban hành của văn bản. Trong đó nêu lên những cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn của việc ban hành văn bản đó. - Phần nội dung: Đây là phần quan trọng nhất của văn bản và được trình bày tùy theo kết cấu nội dung của từng loại văn bản. Tùy theo thể loại và nội dung mà văn bản có thể có các phần căn cứ pháp lý để ban hành.
Văn bản có thể bố cục thành phần, chương, mục, Điều, khoản, điểm hoặc chia thành các phần mục từ lớn đến nhỏ theo một trình tự nhất định. - Phần kết luận: Trong văn bản dưới dạng Điều/Khoản phần kết luận thường nêu Điều khoản thi hành và hiệu lực của văn bản. Các văn bản hành chính khác phần kết luận thường trình bày mong muốn hoặc yêu cầu thực tiễn. Yêu cầu về quy trình soạn thảo và ban hành văn bản Quy trình soạn thảo và ban hành văn bản là trình tự các bước cần thiết được sắp xếp có khoa học nhằm đạt được yêu cầu về thời gian và chất lượng văn bản.
Quy trình soạn thảo và ban hành văn bản gồm 4 bước: Bước 1: Chuẩn bị - Phân công soạn thảo: Căn cứ tính chất, nội dung của văn bản cần soạn thảo, người đứng đầu cơ quan sẽ giao cho cá nhân hoặc đơn vị chủ trì soạn thảo. - Cá nhân, đơn vị soạn thảo có trách nhiệm thực hiện các công việc như: + Xác định mục đích, tính chất, nội dung của vấn đề cần ra văn bản; + Xác định tên loại, trích yếu nội dung văn bản; + Xác định nội dung và độ mật, độ khẩn của văn bản; + Thu thập thông tin, phân tích lựa chọn các thông tin cần thiets có liên quan đến nội dung văn bản; + Xây dựng đề cương và soạn thảo văn bản. 16 Luan van Bước 2: Xây dựng dự thảo văn bản phù hợp với hình thức, thể thức văn bản theo quy định. Căn cứ vào mục đích của văn bản và thu thập để soạn thảo văn bản.
Soạn thảo xong phải kiểm tra thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định hiện hành, kiểm tra mục đích đạt được của văn bản. Bước 3: Trình duyệt văn bản: - Thủ trưởng đơn vị hoặc cá nhân chủ trì soạn thảo văn bản phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về nội dung văn bản trước Thủ trưởng cơ quan và trước pháp luật. Thông thường, người duyệt ký nháy vào chữ cuối cùng của nội dung văn bản sau dấu (.) - Chánh văn phòng phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về hình thức, thể thức, kỹ thuật trình bày và thủ tục ban hành văn bản. Chánh văn phòng ký nháy vào cuối Nơi nhận.
- Thủ trưởng cơ quan, duyệt và ký văn bản. Bước 4: Hoàn thiện thể thức và làm các thủ tục phát hành - Hoàn thiện dự thảo theo ý kiến của lãnh đạo và trình ký chính thức. - Cán bộ văn thư ghi số, ngày tháng năm ban hành văn bản. - Nhân bản theo số lượng văn bản quy định.
- Đóng dấu - Làm các thủ tục phát hành - Lưu văn bản. 17 Luan van TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Văn bản là phương tiện để truyền đạt thông tin một cách chính xác và có hiệu quả trong việc thực thi các quyết định quản lý của các cơ quan, tổ chức. Căn cứ vào tính chất, nội dung mà ta có thể phân loại văn bản theo nhiều tiêu chí khác nhau để phù hợp với thực tế hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Chính vì thấy được tầm quan trọng và thiết yếu của văn bản, mà công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại các cơ quan đang ngày được chú trọng và nâng cao.
Để soạn thảo ra một văn bản có chất lượng, đúng theo quy định hiện hành của pháp luật và Nhà nước đã đề ra, thì người soạn thảo cần phải nắm vững các yêu cầu cũng như các văn bản quy định của Nhà nước ban hành về công tác soạn thảo ban hành văn bản, và thực hiện nó một cách chính xác, tránh sai sót để văn bản khi được ban hành ra theo đúng theo quy định của Nhà nước. 18 Luan van CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN TẠI TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG, BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 2. Khái quát chung về Tổng cục Môi trường 2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Môi trường Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập.
Cục Môi trường là cơ quan đầu tiên chuyên trách về môi trường có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thống nhất quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường trong cả nước. Ngày 27 tháng 12 năm 1993, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ môi trường - nền tảng pháp lý cho hệ thống luật pháp về môi trường của nước ta. Tháng 8 năm 2002 Quốc hội khoá XI đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tăng cường hơn nữa hệ thống quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường. Đồng thời, hình thành 3 đơn vị có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường là Cục Bảo vệ môi trường, Vụ Môi trường và Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường.
Ngày 30 tháng 9 năm 2008, sự ra đời của Tổng cục Môi trường theo Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một bước quan trọng trong tiến trình quy hoạch lại các cơ quan quản lý môi truờng của nhà nước, đồng thời đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của ngành môi trường ở nước ta. (Nguồn trích dẫn tại http://vea.vn/vn/Pages/trangchu.aspx) Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Môi trường được quy định tại Quyết định số 25/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25 tháng 3 năm 2014 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường: a. Chức năng Tổng cục Môi trường là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản 19 Luan van lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về môi trường trong phạm vi cả nước; quản lý, thực hiện các dịch vụ công về môi trương theo quy định của pháp luật. Tổng cục Môi trường có tư cách pháp nhân, con dấu hình Quốc huy, có tài khoản riêng và trụ sở tại thành phố Hà Nội.
Nhiêm vụ và quyền hạn của Tổng cục Môi trường - Xây dựng và soạn thảo các văn bản như: Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định, nghị quyết của Chính phủ; dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; dự thảo thông tư, quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và các văn bản khác về môi trường để Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền. Các Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án liên tỉnh, liên vùng và quốc gia về môi trường trong các lĩnh vực: Phòng ngừa, kiếm soát ô nhiễm; quản lý chất thải, chất thải nguy hại; khắc phục ô nhiễm, khắc phục sự cố môi trường, suy thoái môi trường và cải thiện môi trường; đa dạng sinh học… Các Tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chỉ tiêu, quy trình, định mức kinh tế - kỹ thuật về môi trường và đa dạng sinh học. - Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án liên tỉnh, liên vùng, quốc gia và xuyên quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy trình, định mức kinh tế - kỹ thuật về môi trường và đa dạng sinh học sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt. - Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện việc đăng ký, công nhận, cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về môi trường và đa dạng sinh học theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện công tác rà soát, hệ thống hóa, kiểm tra việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường; đa dạng sinh học. - Về kiểm soát ô nhiễm: 20 Luan van + Điều tra, thống kê, đánh giá các nguồn gây ô nhiễm; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp kiểm soát các nguồn ô nhiễm; trực tiếp kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo quy định của pháp luật; + Lập, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. -Về quản lý chất thải và cải thiện môi trường; bảo vệ môi trường lưu vực sông, vùng ven biển, vùng biển và hải đảo: + Lập, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền danh mục chất thải nguy hại; + Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, ký quỹ cải tạo và phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; + Xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án, dự án, công trình bảo vệ môi trường, khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường lưu vực sông, vùng ven biển, vùng biển và hải đảo bị ô nhiễm, suy thoái môi trường theo quy định của pháp luật; + Là đầu mối giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường điều phối hoạt động phối họp giữa các bộ, ngành và địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường lưu vực sông, vùng ven biển có tính liên ngành, liên tỉnh, liên quốc gia; tham gia các tổ chức lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia.