phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 4 chương, 10 tiết. 5 luan an C ƣơ 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. C c cô trì i cứu đề c p đế ý u c u về biế đổi k í uv ứ p ó với biế đổi k í u ột số công trình nghi n cứu của các tác giả nước ngoài về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu BĐKH là một trong những thách thức lớn của nhân loại hiện nay. Bởi lẽ, BĐKH đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội, đe dọa đến an ninh con người ở các quốc gia, khu vực và trên thế giới.
Nhận thức về vấn đề nghiêm trọng của BĐKH, không ít các công trình nghiên cứu được đề cập đến với các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên không phải ngay từ đầu BĐKH và tác động của BĐKH được nhận diện rõ mà phải mất một khoảng thời gian nhất định nhân loại mới có nhận định khá đầy đủ về BĐKH. Trước thập niên 90, các nghiên cứu về đến BĐKH đã được đề cập với hiện tượng như: hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng lên và đây là một vấn đề nghiêm trọng, có nguy cơ đe dọa đến tương lai của con người. Như nhà vật lý học người Pháp (vào năm 1824) Joseph Fourier nhận định: “Nhiệt độ của trái đất có thể bị tăng lên do sự thay đổi của các thành phần trong bầu không khí bởi sức nóng trong quá trình chuyển nhiệt năng, khí quyển hấp thụ nhiệt năng mặt trời nhiều hơn là phản xạ nó trở lại không gian vũ trụ”; Năm 1861 nhà vật lý học người Ailen, John Tyndall nhận diện ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính là do hơi nước cùng một số loại khí dẫn tới hiện tượng hiệu ứng nhà kính: “Hơi nước như một tấm chăn cần thiết cho sự sống của cây cỏ trên Trái đất hơn là cho con người”.
Và đến năm 1896, nhà hóa học người Thụy Điển, Svante Arrhenius tiếp tục khẳng định một cách chắc chắn rằng, 6 luan an việc đốt than trong công nghiệp là nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng nhà kính. Ông dự báo, nguyên nhân của hiện tượng nóng lên toàn cầu chính là do lượng khí thải carbon dioxide ngày một tăng trong bầu khí quyển (khí thải carbon dioxide được đốt từ các nhiên liệu hóa thạch). Theo quan sát của các nhà khoa học, vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của trái đất tăng và có xu hướng tăng cao có nguy cơ đe dọa đến sự phát triển bền vững của từng quốc gia. Con người cũng đã có được những con số cụ thể thông qua việc đo lường tác động của BĐKH [76].
Từ thập niên 90 trở lại đây, các nghiên cứu về BĐKH tiếp tục được nghiên cứu và đi vào chiều sâu. BĐKH không chỉ ở nghiên cứu vật lý (tìm nguyên nhân, cơ chế tác động) mà đã đi vào đánh giá những tác động của BĐKH; tính dễ tổn thương; các giải pháp khắc phục tác động BĐKH; giải pháp thích ứng với BĐKH.Hơn nữa, nghiên cứu BĐKH lúc này đã có sự liên kết giữa các ngành khoa học. Năm 1938, kỹ sư người Anh, Guy Callendar (sử dụng số liệu của 147 trạm khí tượng ở một số quốc gia) nhận định, nhiệt độ trái đất đã, đang tăng lên trong suốt thế kỷ qua. Đồng thời, ông kết luận nồng độ CO2 cũng tăng và đây có thể là nguyên nhân của sự ấm lên toàn cầu.
Tuy nhiên, kết luận nghiên cứu của Guy Callendar lúc bấy giờ cũng gặp một số ý kiến phản đối. Tiếp đến, vào năm 1955, Gilbert Plass (nhà nghiên cứu người Mỹ) đã phân tích mức độ hấp thụ tia hồng ngoại của một số các loại khí bằng các thiết bị điện tử và ông rút ra kết luận: nếu nồng độ CO2 tăng gấp đôi thì nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 3-40C [76]. Năm 1975 khái niệm “nóng lên toàn cầu” cũng được đặt ra. Công ước quốc tế về BVMT được xây dựng vào năm 1996.
Cùng với các nghiên cứu, các tổ chức nghiên cứu về BĐKH, khung văn bản pháp lý quốc tế về BĐKH hình thành và đi vào hoạt động. Điều này khẳng định, không còn cách nào khác, cần phải nhận thức và hành động của toàn thể nhân loại đối với vấn đề mang tính thảm họa toàn cầu. Năm 1988, Ủy 7 luan an ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (viết tắt là: IPCC) thành lập với mục đích thu thập và đánh giá những tác động BĐKH. Tổ chức IPCC sẽ chịu trách nhiệm đánh giá những rủi ro về thay đổi khí hậu do hoạt động của con người gây ra.
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (viết tắt là: UNFCCC) ra đời tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 (diễn ra ở Rio de Janeiro (Brasil) với sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới. Mục đích quan trọng của công ước là nhằm “ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu” [76], [77]. Các nghiên cứu trên, cùng các công bố của IPCC (báo cáo lần thứ nhất năm 1990 cho đến báo cáo lần thứ 6/2021) đã xác định được những nội dung cơ bản của BĐKH: 1) Nội hàm khái niệm “BĐKH” được mở rộng (KNK; nước biển dâng; hiện tượng El nino; La nina.); 2) Khẳng định nguyên nhân BĐKH là do khí C02 tăng do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người làm thải khí nhà kính vào bầu khí quyển làm cho trái đất không ngừng tăng lên; 3) Dự báo nhiệt độ trái đất tăng có thể đạt ngưỡng 1,50C so với thời kỳ tiền công nghiệp vào giữa những năm 2030; 4) Tác động của BĐKH: băng tan, nước biển dâng, axít hóa đại dương. sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hoạt động sản xuất lương thực toàn cầu; 5) Đề xuất, con người cần phải có trách nhiệm với BĐKH; 6) Trách nhiệm chia sẻ rủi ro của BĐKH giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển; 7) Xây dựng chiến lược quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính.
Tiếp tục khẳng định, hiện tượng trái đất nóng dần lên là do xuất phát từ lối sống tiêu thụ quá mức nguồn năng lượng hóa thạch và làm cho khí hậu thay đổi là điều không tránh khỏi. Từ đây, sẽ gây ra những xáo trộn mang tính toàn cầu như: thiên tai thảm họa diễn ra thường xuyên hơn, mực nước biển dâng cao. đã, đang ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề an ninh con người. Nhiều 8 luan an quốc gia trên thế giới có nguy cơ nước biển dâng và mất dần diện tích lãnh thổ; vấn đề suy giảm hệ sinh thái, bệnh dịch thường xuyên xảy ra … song, chúng ta có thể kiểm soát được những tác động đó bằng cách thay đổi những hành động của chính con người [191], [147].
Đánh giá những rủi do, thiên tai do BĐKH tác động trực tiếp kinh tế - xã hội toàn cầu, tạo áp lực đối với chính phủ các quốc gia. Với sự nóng dần lên của trái đất mỗi năm sẽ lấy đi sinh mạng của gần 40.000 người, gây thiệt hại về kinh tế khoảng 1.200 tỷ USD hằng năm của thế giới (xấp xỉ 1,6% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)). Dự đoán, đến năm 2030, thiệt hại kinh tế gây ra bởi biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí sẽ tăng lên 3,2% GDP toàn cầu, trong đó, những nước kém phát triển nhất sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn cả với mức thiệt hại có thể lên đến 11% GDP. BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngân sách nhà nước, nhà nghiên cứu Nicolas Stem - chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo: trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH cho toàn thế giới khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không có quyết sách, hành động giảm thiểu BĐKH thì mỗi năm ngân sách nhà nước từng quốc gia mất khoảng 5% đến 20% tổng GDP; ngược lại nếu chúng ta có các quyết sách và hành động mạnh mẽ trong giảm thải khí nhà kính ở mức 550ppm thì chi phí ngân sách nhà nước sẽ là 1% GDP [211].
Dự đoán, vào năm 2025, khoảng 5 tỉ người trên thế giới sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng mà mâu thuẫn chủ yếu liên quan đến nước, lương thực. Đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi nơi cư trú của mình do nước biển dâng, nước nhiễm mặn. ở khu vực duyên hải. Bệnh tật, dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều do ô nhiễm môi trường.
Nguyên nhân BĐKH do nhân tố chủ quan lên tới 90% và nếu các quốc gia không tiếp tục thực hiện cắt giảm KNK thì vào năm 2050 nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp. Kết quả sẽ dẫn đến 9 luan an hàng loạt biểu hiện bất thường của khí hậu như: lượng mưa, độ ẩm, bức xạ, hạn hán, băng tan, nước biển dâng…[194], [33]. BĐKH không còn là câu chuyện của tương lai nữa, những hệ lụy của BĐKH thời gian gần đây đòi hỏi con người phải thay đổi nhận thức và hành động. Hiện nay, với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ chúng ta có thể áp dụng công nghệ hiện đại để giảm thiểu những tác động của BĐKH, đảm bảo an ninh lương thực cho toàn cầu.
Đồng thời chúng ta cũng có thể, đưa những nguy cơ trở thành cơ hội phát triển ở một số lĩnh vực cụ thể. Các biện pháp như: vận chuyển hiệu quả, xử lý carbon, năng lượng tái tạo, vấn đề quản lý. Việc phát huy thế mạnh của công nghệ tiên tiến sẽ giúp chúng ta duy trì được tăng trưởng kinh tế, năng lượng tái tạo được thay thế cho sự khan hiếm, sử dụng năng lượng tự nhiên, môi trường sinh thái được cân bằng. Tuy nhiên, triển khai các công nghệ trong ứng phó BĐKH hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào nhận định nghiêm túc các chính sách công trong việc thương mại hóa ở các quốc gia [196].
Thích ứng với BĐKH bằng cách điều chỉnh hành vi của con người và cấu trúc nền kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường - là giải pháp giảm thiểu đối với tác động tiêu cực của BĐKH [210]. BĐKH ở góc độ nào đó cũng mạng lại lợi ích cho con người, do vậy cùng với những biện pháp hạn chế tác động thì việc khai thác lợi ích do BĐKH mang lại cũng cần được xem xét nghiên cứu, triển khai [208], [200].