Vai trò của nhà nước trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả cho tương lai.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

177
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu đề cập đến lý luận chung về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu

1.2. Các công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu và vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

1.3. Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

2.1. Một số vấn đề lý luận về ứng phó với biến đổi khí hậu

2.2. Một số vấn đề lý luận về vai trò của Nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

3.2. Thực trạng vai trò của Nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

3.3. Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Một số quan điểm chủ yếu nhằm phát huy vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

4.2. Một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi khí hậu và vai trò của nhà nước

Biến đổi khí hậu (biến đổi khí hậu) đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại. Tại Việt Nam, tác động của biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đến kinh tế và xã hội. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó với những thách thức này. Chính sách môi trường (chính sách môi trường) cần được xây dựng và thực hiện một cách đồng bộ để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu cho thấy rằng, việc quản lý tài nguyên (quản lý tài nguyên) hiệu quả là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước cần có những chiến lược rõ ràng để phát triển bền vững (phát triển bền vững) và bảo vệ môi trường.

1.1. Tác động của biến đổi khí hậu

Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam rất nghiêm trọng. Nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán là những hiện tượng ngày càng phổ biến. Theo các nghiên cứu, Việt Nam có thể mất khoảng 15 tỷ USD mỗi năm do biến đổi khí hậu. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn đến an ninh lương thực và sức khỏe cộng đồng. Nhà nước cần có những biện pháp cụ thể để giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ người dân khỏi những tác động tiêu cực này.

1.2. Vai trò của nhà nước trong ứng phó

Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chiến lược như Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và Kế hoạch hành động quốc gia cần được triển khai một cách hiệu quả. Việc hợp tác quốc tế cũng rất cần thiết để chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực. Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân tham gia vào công tác ứng phó với biến đổi khí hậu.

II. Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Thực trạng ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều bất cập. Mặc dù đã có nhiều chính sách được ban hành, nhưng hiệu quả thực hiện vẫn chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc thiếu sự phối hợp giữa các bộ ngành và địa phương cũng là một vấn đề lớn. Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả của các chính sách này.

2.1. Những thành tựu đạt được

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chương trình như Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đã được triển khai. Nhiều dự án phát triển bền vững đã được thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động này để đạt được hiệu quả cao hơn.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, việc thiếu thông tin và dữ liệu chính xác cũng làm giảm hiệu quả của các chính sách. Cần có những biện pháp khắc phục để nâng cao khả năng ứng phó của nhà nước.

III. Giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước

Để nâng cao vai trò của nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu, cần có những giải pháp cụ thể. Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về biến đổi khí hậu cho cộng đồng. Thứ hai, cần xây dựng các chính sách pháp luật rõ ràng và đồng bộ để hỗ trợ cho công tác ứng phó. Cuối cùng, việc hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học cũng cần được chú trọng để tìm ra những giải pháp hiệu quả hơn.

3.1. Tăng cường giáo dục và tuyên truyền

Giáo dục và tuyên truyền về biến đổi khí hậu là rất quan trọng. Nhà nước cần tổ chức các chương trình đào tạo cho cán bộ, công chức và cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu và cách ứng phó. Các hoạt động truyền thông cũng cần được đẩy mạnh để nâng cao ý thức cộng đồng.

3.2. Xây dựng chính sách pháp luật đồng bộ

Chính sách pháp luật cần được xây dựng một cách đồng bộ và rõ ràng. Nhà nước cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc này sẽ giúp các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thể thực hiện một cách hiệu quả hơn. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát và đánh giá để đảm bảo tính hiệu quả của các chính sách.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 4 chương, 10 tiết. 5 luan an C ƣơ 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. C c cô trì i cứu đề c p đế ý u c u về biế đổi k í uv ứ p ó với biế đổi k í u ột số công trình nghi n cứu của các tác giả nước ngoài về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu BĐKH là một trong những thách thức lớn của nhân loại hiện nay. Bởi lẽ, BĐKH đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội, đe dọa đến an ninh con người ở các quốc gia, khu vực và trên thế giới.

Nhận thức về vấn đề nghiêm trọng của BĐKH, không ít các công trình nghiên cứu được đề cập đến với các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên không phải ngay từ đầu BĐKH và tác động của BĐKH được nhận diện rõ mà phải mất một khoảng thời gian nhất định nhân loại mới có nhận định khá đầy đủ về BĐKH. Trước thập niên 90, các nghiên cứu về đến BĐKH đã được đề cập với hiện tượng như: hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng lên và đây là một vấn đề nghiêm trọng, có nguy cơ đe dọa đến tương lai của con người. Như nhà vật lý học người Pháp (vào năm 1824) Joseph Fourier nhận định: “Nhiệt độ của trái đất có thể bị tăng lên do sự thay đổi của các thành phần trong bầu không khí bởi sức nóng trong quá trình chuyển nhiệt năng, khí quyển hấp thụ nhiệt năng mặt trời nhiều hơn là phản xạ nó trở lại không gian vũ trụ”; Năm 1861 nhà vật lý học người Ailen, John Tyndall nhận diện ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính là do hơi nước cùng một số loại khí dẫn tới hiện tượng hiệu ứng nhà kính: “Hơi nước như một tấm chăn cần thiết cho sự sống của cây cỏ trên Trái đất hơn là cho con người”.

Và đến năm 1896, nhà hóa học người Thụy Điển, Svante Arrhenius tiếp tục khẳng định một cách chắc chắn rằng, 6 luan an việc đốt than trong công nghiệp là nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng nhà kính. Ông dự báo, nguyên nhân của hiện tượng nóng lên toàn cầu chính là do lượng khí thải carbon dioxide ngày một tăng trong bầu khí quyển (khí thải carbon dioxide được đốt từ các nhiên liệu hóa thạch). Theo quan sát của các nhà khoa học, vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của trái đất tăng và có xu hướng tăng cao có nguy cơ đe dọa đến sự phát triển bền vững của từng quốc gia. Con người cũng đã có được những con số cụ thể thông qua việc đo lường tác động của BĐKH [76].

Từ thập niên 90 trở lại đây, các nghiên cứu về BĐKH tiếp tục được nghiên cứu và đi vào chiều sâu. BĐKH không chỉ ở nghiên cứu vật lý (tìm nguyên nhân, cơ chế tác động) mà đã đi vào đánh giá những tác động của BĐKH; tính dễ tổn thương; các giải pháp khắc phục tác động BĐKH; giải pháp thích ứng với BĐKH.Hơn nữa, nghiên cứu BĐKH lúc này đã có sự liên kết giữa các ngành khoa học. Năm 1938, kỹ sư người Anh, Guy Callendar (sử dụng số liệu của 147 trạm khí tượng ở một số quốc gia) nhận định, nhiệt độ trái đất đã, đang tăng lên trong suốt thế kỷ qua. Đồng thời, ông kết luận nồng độ CO2 cũng tăng và đây có thể là nguyên nhân của sự ấm lên toàn cầu.

Tuy nhiên, kết luận nghiên cứu của Guy Callendar lúc bấy giờ cũng gặp một số ý kiến phản đối. Tiếp đến, vào năm 1955, Gilbert Plass (nhà nghiên cứu người Mỹ) đã phân tích mức độ hấp thụ tia hồng ngoại của một số các loại khí bằng các thiết bị điện tử và ông rút ra kết luận: nếu nồng độ CO2 tăng gấp đôi thì nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 3-40C [76]. Năm 1975 khái niệm “nóng lên toàn cầu” cũng được đặt ra. Công ước quốc tế về BVMT được xây dựng vào năm 1996.

Cùng với các nghiên cứu, các tổ chức nghiên cứu về BĐKH, khung văn bản pháp lý quốc tế về BĐKH hình thành và đi vào hoạt động. Điều này khẳng định, không còn cách nào khác, cần phải nhận thức và hành động của toàn thể nhân loại đối với vấn đề mang tính thảm họa toàn cầu. Năm 1988, Ủy 7 luan an ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (viết tắt là: IPCC) thành lập với mục đích thu thập và đánh giá những tác động BĐKH. Tổ chức IPCC sẽ chịu trách nhiệm đánh giá những rủi ro về thay đổi khí hậu do hoạt động của con người gây ra.

Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (viết tắt là: UNFCCC) ra đời tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 (diễn ra ở Rio de Janeiro (Brasil) với sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới. Mục đích quan trọng của công ước là nhằm “ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu” [76], [77]. Các nghiên cứu trên, cùng các công bố của IPCC (báo cáo lần thứ nhất năm 1990 cho đến báo cáo lần thứ 6/2021) đã xác định được những nội dung cơ bản của BĐKH: 1) Nội hàm khái niệm “BĐKH” được mở rộng (KNK; nước biển dâng; hiện tượng El nino; La nina.); 2) Khẳng định nguyên nhân BĐKH là do khí C02 tăng do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người làm thải khí nhà kính vào bầu khí quyển làm cho trái đất không ngừng tăng lên; 3) Dự báo nhiệt độ trái đất tăng có thể đạt ngưỡng 1,50C so với thời kỳ tiền công nghiệp vào giữa những năm 2030; 4) Tác động của BĐKH: băng tan, nước biển dâng, axít hóa đại dương. sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hoạt động sản xuất lương thực toàn cầu; 5) Đề xuất, con người cần phải có trách nhiệm với BĐKH; 6) Trách nhiệm chia sẻ rủi ro của BĐKH giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển; 7) Xây dựng chiến lược quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính.

Tiếp tục khẳng định, hiện tượng trái đất nóng dần lên là do xuất phát từ lối sống tiêu thụ quá mức nguồn năng lượng hóa thạch và làm cho khí hậu thay đổi là điều không tránh khỏi. Từ đây, sẽ gây ra những xáo trộn mang tính toàn cầu như: thiên tai thảm họa diễn ra thường xuyên hơn, mực nước biển dâng cao. đã, đang ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề an ninh con người. Nhiều 8 luan an quốc gia trên thế giới có nguy cơ nước biển dâng và mất dần diện tích lãnh thổ; vấn đề suy giảm hệ sinh thái, bệnh dịch thường xuyên xảy ra … song, chúng ta có thể kiểm soát được những tác động đó bằng cách thay đổi những hành động của chính con người [191], [147].

Đánh giá những rủi do, thiên tai do BĐKH tác động trực tiếp kinh tế - xã hội toàn cầu, tạo áp lực đối với chính phủ các quốc gia. Với sự nóng dần lên của trái đất mỗi năm sẽ lấy đi sinh mạng của gần 40.000 người, gây thiệt hại về kinh tế khoảng 1.200 tỷ USD hằng năm của thế giới (xấp xỉ 1,6% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)). Dự đoán, đến năm 2030, thiệt hại kinh tế gây ra bởi biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí sẽ tăng lên 3,2% GDP toàn cầu, trong đó, những nước kém phát triển nhất sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn cả với mức thiệt hại có thể lên đến 11% GDP. BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngân sách nhà nước, nhà nghiên cứu Nicolas Stem - chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo: trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH cho toàn thế giới khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không có quyết sách, hành động giảm thiểu BĐKH thì mỗi năm ngân sách nhà nước từng quốc gia mất khoảng 5% đến 20% tổng GDP; ngược lại nếu chúng ta có các quyết sách và hành động mạnh mẽ trong giảm thải khí nhà kính ở mức 550ppm thì chi phí ngân sách nhà nước sẽ là 1% GDP [211].

Dự đoán, vào năm 2025, khoảng 5 tỉ người trên thế giới sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng mà mâu thuẫn chủ yếu liên quan đến nước, lương thực. Đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi nơi cư trú của mình do nước biển dâng, nước nhiễm mặn. ở khu vực duyên hải. Bệnh tật, dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều do ô nhiễm môi trường.

Nguyên nhân BĐKH do nhân tố chủ quan lên tới 90% và nếu các quốc gia không tiếp tục thực hiện cắt giảm KNK thì vào năm 2050 nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp. Kết quả sẽ dẫn đến 9 luan an hàng loạt biểu hiện bất thường của khí hậu như: lượng mưa, độ ẩm, bức xạ, hạn hán, băng tan, nước biển dâng…[194], [33]. BĐKH không còn là câu chuyện của tương lai nữa, những hệ lụy của BĐKH thời gian gần đây đòi hỏi con người phải thay đổi nhận thức và hành động. Hiện nay, với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ chúng ta có thể áp dụng công nghệ hiện đại để giảm thiểu những tác động của BĐKH, đảm bảo an ninh lương thực cho toàn cầu.

Đồng thời chúng ta cũng có thể, đưa những nguy cơ trở thành cơ hội phát triển ở một số lĩnh vực cụ thể. Các biện pháp như: vận chuyển hiệu quả, xử lý carbon, năng lượng tái tạo, vấn đề quản lý. Việc phát huy thế mạnh của công nghệ tiên tiến sẽ giúp chúng ta duy trì được tăng trưởng kinh tế, năng lượng tái tạo được thay thế cho sự khan hiếm, sử dụng năng lượng tự nhiên, môi trường sinh thái được cân bằng. Tuy nhiên, triển khai các công nghệ trong ứng phó BĐKH hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào nhận định nghiêm túc các chính sách công trong việc thương mại hóa ở các quốc gia [196].

Thích ứng với BĐKH bằng cách điều chỉnh hành vi của con người và cấu trúc nền kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường - là giải pháp giảm thiểu đối với tác động tiêu cực của BĐKH [210]. BĐKH ở góc độ nào đó cũng mạng lại lợi ích cho con người, do vậy cùng với những biện pháp hạn chế tác động thì việc khai thác lợi ích do BĐKH mang lại cũng cần được xem xét nghiên cứu, triển khai [208], [200].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Vai trò của nhà nước trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Trịnh Thị Thủy, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên Nguyễn Thị Lan Hương và Phạm Thị Ngọc Trầm, trình bày những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt do biến đổi khí hậu và vai trò quan trọng của nhà nước trong việc ứng phó với vấn đề này. Bài viết nhấn mạnh rằng nhà nước không chỉ cần có các chính sách hiệu quả mà còn phải thực hiện các biện pháp cụ thể để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà chính phủ có thể cải thiện khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay, nơi đề cập đến vai trò của nhà nước trong giáo dục, một lĩnh vực cũng chịu ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu. Ngoài ra, bài viết Luận văn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình sẽ cung cấp cái nhìn về cách nhà nước quản lý các hoạt động kinh tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Cuối cùng, bài viết Luận văn về quản lý nhà nước đối với tôn giáo: Thực trạng và giải pháp hiệu quả cũng có thể mang lại những góc nhìn thú vị về vai trò của nhà nước trong việc duy trì sự ổn định xã hội trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của nhà nước trong nhiều lĩnh vực khác nhau.