Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quản lý nhà nước về môi trường từ thực tiễn tỉnh Hải Dương" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Minh Thảo, thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số: 9380102) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng và PGS.TS. Phạm Hữu Nghị.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bảo vệ môi trường (BVMT) là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự sống và phát triển bền vững (PTBV) của xã hội loài người. Tại Việt Nam, mô hình tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài dựa nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên theo chiều rộng đã làm gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và suy thoái các hệ sinh thái. Mặc dù hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về BVMT đã liên tục được ban hành, sửa đổi (từ Luật BVMT năm 1993, 2005, 2014 đến năm 2020, sửa đổi bổ sung năm 2023; các Nghị quyết số 41-NQ/TW năm 2004 và Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013 của Đảng), hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về môi trường vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong thực thi.
Tại tỉnh Hải Dương – địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ – tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh (GRDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 8,1%/năm; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ năm 2020 chiếm 90,3% GRDP) đi kèm với sự hình thành của 14 khu công nghiệp (KCN), 58 cụm công nghiệp (CCN), 65 làng nghề và khoảng 18.595 doanh nghiệp đang hoạt động. Sự phát triển mạnh của các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao (nhiệt điện than, luyện kim, khai khoáng, hóa chất) cùng việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV trong nông nghiệp đã dẫn tới nhiều điểm nóng ô nhiễm môi trường tại các huyện Kinh Môn, Cẩm Giàng, Bình Giang. Tình hình đó đòi hỏi phải đánh giá toàn diện hoạt động QLNN về môi trường.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Từ khi Luật BVMT năm 2020 có hiệu lực thi hành, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện hoạt động QLNN về môi trường ở cấp tỉnh; đặc biệt từ năm 2015 đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu thực trạng này trên địa bàn tỉnh Hải Dương dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính kết hợp lý thuyết quản trị tốt và PTBV.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về QLNN về môi trường và thực tiễn QLNN về môi trường tại tỉnh Hải Dương; từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm và nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường từ thực tiễn địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra các thành tựu và khoảng trống nghiên cứu; xây dựng cơ sở lý thuyết của đề tài.
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về QLNN về môi trường (khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, nội dung, phương pháp, công cụ và cơ sở pháp lý).
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng QLNN về môi trường tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2018–2022 (kết quả, hạn chế và nguyên nhân).
- Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp bảo đảm, nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường tại tỉnh Hải Dương trong giai đoạn tiếp theo.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi tổng thể: Quản lý nhà nước về môi trường cần được tổ chức và thực hiện trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào để có hiệu lực và hiệu quả nhằm mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm quyền con người sống trong môi trường trong lành?
- Câu hỏi cụ thể 1: Quản lý nhà nước về môi trường đã được luận giải thấu đáo, tính đến các đặc thù của lĩnh vực môi trường và vận dụng tốt các lý thuyết hiện đại (phát triển bền vững, quản trị tốt) hay chưa?
- Câu hỏi cụ thể 2: Thực tiễn tổ chức hoạt động quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Hải Dương đã đạt được yêu cầu đặt ra chưa?
- Câu hỏi cụ thể 3: Cần có giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Hải Dương?
- Giả thuyết tổng thể: Quản lý nhà nước về môi trường chưa được tổ chức và thực hiện trên cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ và chắc chắn. Về lý luận, chưa vận dụng tốt lý thuyết phát triển bền vững, quản trị tốt và chưa chú ý đầy đủ đặc thù môi trường; về thực tiễn, chưa căn cứ đầy đủ vào hiện trạng và chưa giải quyết dứt điểm các vấn đề môi trường đặt ra.
- Giả thuyết cụ thể 1: Các vấn đề lý luận chưa được phân tích thấu đáo dẫn đến nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức bộ máy QLNN về môi trường chưa tường minh trong nghiên cứu.
- Giả thuyết cụ thể 2: Hoạt động QLNN về môi trường tại Hải Dương còn nhiều hạn chế từ ban hành văn bản, tổ chức thực hiện pháp luật đến thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.
- Giả thuyết cụ thể 3: Cần vận dụng lý thuyết phát triển bền vững và quản trị tốt để xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể từ hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực bộ máy đến giám sát và huy động cộng đồng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tập trung vào địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Về thời gian: Thu thập số liệu và khảo sát thực tiễn trọng tâm trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
- Về nội dung: Tiếp cận dưới góc độ Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, quản lý công và chính sách công (tiếp cận QLNN theo nghĩa hẹp - hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 3 nhóm chủ đề:
CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU
[Lý luận QLNN & Pháp luật] [Thực trạng QLNN Môi trường] [Giải pháp hoàn thiện QLNN]
• Trong nước: Lưu Đức Hải (2009), • Trong nước: Huỳnh Minh Luân • Đề tài KH cấp Bộ (KTTĐ phía Nam),
Phạm Thị Tính (2015), Đỗ Nam (Trà Vinh 2016), Nguyễn Thị Lê Thanh Hải (làng nghề ĐBSCL),
Thắng, Nguyễn Thanh Lâm, Võ Trung Hồng Linh (Hải Dương 2015), Hoàng Thế Liên, Võ Trung Tín,
Tín, Nguyễn Ngọc Anh Đào, Lâm Nguyễn Trần Điện, Nguyễn Quang Cao Văn Cảnh (CTR Quảng Ngãi),
Văn Đoan, Đặng Mộng Lân... Hùng, Phan Tuấn Hùng... Nguyễn Thị Tố Uyên, Bùi Đức Hiển...
• Quốc tế: Báo cáo Brundtland • Quốc tế: Somrudee Niccro & • Quốc tế: Suzanne E. J. Kingston
(1987), Bullard (1990s), cộng sự (2000s), Alan Khee- (2009), UNEP (2013), V M Pham...
D. Shelton, K. Woods, B. M. Lewis, Jin Tan, Nguyen Khanh Bui &
Rak Hyun Kim (2013), M. Howes... Anna Kopytova...
Nhóm 1: Những vấn đề lý luận về quản lý môi trường và pháp luật môi trường
- Tài liệu trong nước: Các tác giả Lưu Đức Hải (2009), Phạm Thị Tính (2015), nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp (2021) và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2023) xác lập 5 cơ sở QLNN về môi trường (triết học, chính trị, pháp luật, kinh tế, khoa học công nghệ). Giáo trình của Học viện Hành chính Quốc gia (2004, 2010), Đại học Luật Hà Nội (2011), các luận án/luận văn của Nguyễn Thị Hồng Linh (2015), Huỳnh Minh Luân (2016), Hoàng Văn Tuân (2017), Trần Viết Trung (2017) bàn về khái niệm và chủ thể QLNN. Về công cụ quản lý, Đặng Mộng Lân (công cụ kỹ thuật ĐTM, hạch toán tài nguyên), Đỗ Nam Thắng và Nguyễn Thanh Lâm (công cụ kinh tế), Võ Trung Tín (nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền), Nguyễn Ngọc Anh Đào (chính sách thuế, phí BVMT), Lâm Văn Đoan (yếu tố bảo đảm thực thi pháp luật).
- Tài liệu quốc tế: Báo cáo Brundtland (WCED, 1987) định hình khái niệm PTBV; Robert Bullard với tác phẩm Unequal Protection: Environmental Justice and Communities of Color xác lập lý thuyết công lý môi trường (phân phối và thủ tục); Dinah Shelton (Environmental Protection and Human Rights) và Kerri Woods (Human Rights and Environmental Sustainability) luận giải mối quan hệ giữa nhân quyền và sinh thái; Bridget Mary Lewis (Đại học Monash) phân tích quyền con người được sống trong môi trường tốt trong luật quốc tế; Rak Hyun Kim (Đại học Quốc gia Australia, 2013) phân tích 747 điều ước quốc tế đa phương về môi trường (MEAs); Michael Howes và cộng sự nghiên cứu nguyên nhân thất bại trong thực thi chính sách môi trường do xung đột lợi ích kinh tế.
Nhóm 2: Thực trạng quản lý nhà nước về môi trường
- Tài liệu trong nước: Huỳnh Minh Luân (thực trạng tại Trà Vinh 2011–2015), Nguyễn Trần Điện (thực hiện pháp luật tại làng nghề Đồng bằng sông Hồng), Nguyễn Quang Hùng (lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy), Nguyễn Thị Hồng Linh (thực trạng Hải Dương giai đoạn 2011–2015), Đinh Phượng Quỳnh (pháp luật BVMT giai đoạn 1993–2011), Nguyễn Đắc Đồng (cơ sở sản xuất tại Quảng Bình), Phan Tuấn Hùng (áp dụng công cụ chính sách - pháp luật), Phạm Thị Thu Hoài (nước thải KCN tại Thanh Hóa), Phan Thị Thu Thủy (bất cập quy chuẩn kỹ thuật nước thải công nghiệp ngành thép).
- Tài liệu quốc tế: Somrudee Niccro, Richard Friend và Suphasuk Pradubsuk (Environmental Governance in Asia) nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng theo Nguyên tắc 10 Tuyên bố Rio; Alan Khee-Jin Tan phân tích sự phân mảnh chính sách tại Đông Nam Á; Nguyen Khanh Bui và Anna Kopytova chỉ ra các hạn chế của Luật BVMT Việt Nam 2014 về phân công, phân cấp và giải quyết sự cố ô nhiễm kim loại nặng (Cu, Zn, Cd).
Nhóm 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về môi trường
- Tài liệu trong nước: Đề tài cấp Bộ của Trung tâm KHXH&NV tại TP.HCM (vùng KTTĐ phía Nam), Đề tài cấp Nhà nước do Lê Thanh Hải chủ nhiệm (làng nghề ĐBSCL), sách chuyên khảo của Hoàng Thế Liên, luận án của Cao Văn Cảnh (quản lý chất thải rắn KCN Quảng Ngãi), Trần Thị Xuân (tiếp cận nước sạch nông thôn ĐBSH), các bài báo khoa học của Nguyễn Thị Tố Uyên (phân công nhiệm vụ QLNN), Lê Thị Hồng (ĐTM), Lê Thị Thảo và Nguyễn Quang Tuấn (công cụ kinh tế - pháp lý), Phạm Hữu Nghị và Bùi Đức Hiển (xác định thiệt hại do ô nhiễm), Bùi Đức Hiển (bảo vệ quyền môi trường bằng cơ chế tư pháp), Vũ Kim Điềm, Đào Kim Anh và Võ Phương Thảo (quyền phản tố môi trường trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế), Báo cáo chuyên đề số 218 của CIFOR (2021) về chuyển nhượng quyền carbon (REDD+).
- Tài liệu quốc tế: Suzanne Elizabeth Joy Kingston (Đại học Leiden, 2009) về lồng ghép BVMT trong chính sách cạnh tranh của EC; UNEP (2013) về tích hợp môi trường trong quy hoạch đô thị; V M Pham về thiết lập hệ thống QLNN môi trường nông nghiệp tại Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Khái niệm QLNN về môi trường và mối quan hệ giữa QLNN với quản lý của các chủ thể xã hội chưa được phân tích thấu đáo; chưa chú ý đúng mức tính đặc thù của lĩnh vực môi trường; chưa vận dụng sâu lý thuyết phát triển bền vững và lý thuyết quản trị tốt vào phân tích quản lý môi trường.
- Chưa nhìn nhận đầy đủ tính hai mặt của vấn đề môi trường: ngoài thách thức, các áp lực môi trường còn là động lực thúc đẩy đổi mới phương thức quản lý và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.
- Thiếu công trình nghiên cứu toàn diện thực trạng QLNN về môi trường ở cấp tỉnh kể từ khi Luật BVMT năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2023) có hiệu lực thi hành; đặc biệt địa bàn tỉnh Hải Dương chưa được nghiên cứu đánh giá toàn diện giai đoạn 2018–2022.
- Khắc phục xu hướng tuyệt đối hóa vai trò điều chỉnh, mệnh lệnh của Nhà nước bằng cách luận giải vai trò đồng hành, tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong quản trị môi trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của 3 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable Development): Tiếp cận từ Báo cáo Brundtland (1987), Chương trình Nghị sự 21 (Rio 1992) và Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Lý thuyết xác lập sự cân bằng hài hòa giữa 3 trụ cột: tăng trưởng kinh tế bền vững, công bằng xã hội (thông qua chỉ số HDI) và bảo vệ môi trường sinh thái. Lý thuyết này được tác giả dùng làm căn cứ đánh giá quy hoạch, chính sách kinh tế - môi trường của tỉnh Hải Dương.
- Lý thuyết quyền con người được sống trong môi trường trong lành: Tiếp cận từ trường phái quyền tự nhiên (Zeno, Thomas Hobbes, Thomas Paine) và quyền pháp lý (Edmund Burke, Jeremy Bentham), kết hợp các văn kiện quốc tế (Tuyên bố Stockholm 1972, Tuyên bố Rio 1992, Thỏa thuận Paris 2015, Hiệp ước Glasgow 2021) và quy định tại Điều 43, Điều 63 Hiến pháp năm 2013. Luận án sử dụng lý thuyết này làm thước đo đánh giá trách nhiệm của chính quyền địa phương trong kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ quyền lợi cư dân.
- Lý thuyết quản trị tốt (Good Governance): Tiếp cận theo chuẩn mực của Ngân hàng Thế giới (1992), Hội đồng châu Âu (2007), OECD và Liên Hợp Quốc gồm 8 nguyên tắc cốt lõi: sự tham gia, pháp quyền, minh bạch, sự kịp thời, định hướng đồng thuận, bình đẳng/không loại trừ, hiệu lực/hiệu quả, và trách nhiệm giải trình. Tác giả vận dụng lý thuyết quản trị tốt để đánh giá công tác xã hội hóa dịch vụ môi trường, công khai thông tin quan trắc, giải trình với công chúng và giải quyết các điểm nóng môi trường tại Hải Dương.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về BVMT (Nghị quyết 41-NQ/TW, Nghị quyết 24-NQ/TW).
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa: Thu thập, phân loại, hệ thống hóa tài liệu học thuật, báo cáo, đề tài trong và ngoài nước.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thứ cấp từ báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước, Công an tỉnh, Sở TN&MT bằng phần mềm Excel nhằm thể hiện xu hướng biến đổi môi trường và kết quả xử lý vi phạm qua các bảng biểu.
- Phương pháp phân tích: Làm rõ các khái niệm pháp lý (môi trường, QLNN về môi trường), phân tích khung lý thuyết, mổ xẻ cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp và thực trạng quản lý các thành phần môi trường tại Hải Dương.
- Phương pháp chứng minh: Luận giải và khẳng định tính tất yếu khách quan, tính khả thi của các luận điểm khoa học và nhóm giải pháp kiến nghị.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 2013, Luật BVMT qua các thời kỳ (1993, 2005, 2014, 2020), Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Lâm nghiệp, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành.
- Báo cáo tổng kết, số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo hiện trạng môi trường của UBND tỉnh Hải Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh Hải Dương giai đoạn 2018–2022; các kết quả quan trắc môi trường nước, không khí, chất thải rắn tại các KCN, CCN, làng nghề trên địa bàn tỉnh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài luận án
Chương 1 khái quát quá trình hình thành và phát triển của khoa học QLNN về môi trường trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả tổng quan chi tiết 3 nhóm công trình (về lý luận, thực trạng và giải pháp), chỉ ra những kết quả đã đạt được và 5 khoảng trống nghiên cứu chính. Trên cơ sở đó, chương này thiết lập khung lý thuyết nghiên cứu gồm 3 lý thuyết nền tảng (phát triển bền vững, quyền con người về môi trường trong lành, quản trị tốt), đồng thời công bố hệ thống câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ khung phân tích của toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về môi trường
Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung lý luận chuyên sâu về QLNN đối với môi trường theo nghĩa hẹp (hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước):
- Khái niệm: QLNN về môi trường là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của các tổ chức, cá nhân do các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện nhằm phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Các yếu tố cấu thành:
- Chủ thể: Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương (Chính phủ, Bộ TN&MT, các bộ ngành phối hợp) đến địa phương (UBND các cấp, cơ quan chuyên môn về TN&MT) và các tổ chức hỗ trợ (Ban quản lý KCN, chủ đầu tư hạ tầng tập trung).
- Khách thể: Trật tự QLNN về môi trường do pháp luật xác lập (ổn định về tổ chức - kỹ thuật và nội dung quan hệ xã hội).
- Đối tượng: Hành vi của con người (cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng) tác động vào các thành phần môi trường tự nhiên.
- Mục tiêu: Mục tiêu tối cao là bảo đảm phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế và sinh thái.
- Công cụ quản lý: Hệ thống công cụ đa dạng gồm công cụ pháp luật (quy định, tổ chức thực hiện, chế tài), công cụ tổ chức bộ máy, công cụ kinh tế (thuế, phí, quỹ BVMT, hạn ngạch phát thải, ký quỹ - dựa trên nguyên tắc PPP và BPP) và công cụ kỹ thuật quản lý (quan trắc, ĐTM, giấy phép môi trường, hệ thống công nghệ 4.0, IoT, dữ liệu lớn).
- 5 đặc điểm cốt lõi của QLNN về môi trường:
- Giao thoa, kết hợp giữa quản lý giới vô sinh, quản lý sinh vật và quản lý xã hội.
- Tính khó khăn trong việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và BVMT bền vững.
- Tính chất liên kết vùng, khu vực và quốc tế (không bị giới hạn bởi địa giới hành chính).
- Tính đi trước, dự báo và phòng ngừa rủi ro sinh thái.
- Mối liên hệ mật thiết, tương tác chặt chẽ với các chủ thể tham gia quản lý môi trường trong xã hội.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Hải Dương
Chương 3 phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá toàn diện thực trạng QLNN về môi trường tại Hải Dương giai đoạn 2018–2022 thông qua hệ thống dữ liệu, bảng biểu thống kê thực tế:
| Số hiệu bảng |
Tên bảng thống kê trong luận án |
Nội dung phản ánh và số liệu trọng tâm |
| Bảng 3.1 |
Tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giai đoạn 2020-2022 |
Thống kê định lượng khối lượng phân bón vô cơ, hữu cơ và hóa chất thuốc BVTV dùng trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương, phản ánh áp lực tồn lưu hóa chất độc hại vào đất và nước mặt. |
| Bảng 3.2 |
Bảng tổng hợp kết quả quan trắc môi trường nước tỉnh Hải Dương năm 2022 |
Tổng hợp các thông số chất lượng nước (DO, BOD, COD, TSS, amoni $NH_4^+-N$, nitrit $NO_2^--N$, ortho-phosphat $PO_4^{3-}-P$, kim loại As, Pb, Cu, Zn, Mn) so với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), chỉ ra mức độ ô nhiễm tại các đoạn sông, kênh mương tiếp nhận nước thải. |
| Bảng 3.3 |
Bảng tổng hợp ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2018 - 2022 |
Chi tiết nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh, huyện phân bổ cho sự nghiệp BVMT (duy trì mức tối thiểu 1% tổng chi ngân sách), tỷ lệ giải ngân và cơ cấu chi cho hoạt động thu gom rác thải, xử lý ô nhiễm, quan trắc và tuyên truyền. |
| Bảng 3.4 |
Tổng hợp kết quả xử lý vi phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường của lực lượng Công an tỉnh Hải Dương giai đoạn 2018 - 2022 |
Số vụ việc vi phạm bị phát hiện; phân loại theo hành vi (xả thải vượt chuẩn, chôn lấp chất thải rắn trái phép, vi phạm quy định ĐTM); số đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính, tổng số tiền xử phạt và số vụ việc bị khởi tố hình sự. |
| Bảng 3.5 |
Bảng tổng hợp số liệu thực trạng hạ tầng các cụm công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương |
Thống kê trong số 58 CCN trên địa bàn tỉnh: tỷ lệ CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, tỷ lệ CCN chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật BVMT, tình trạng xả thải trực tiếp ra môi trường tiếp nhận. |
- Kết quả đạt được: Tổ chức bộ máy quản lý từ cấp tỉnh đến xã được kiện toàn; ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND; công tác thẩm định ĐTM và cấp giấy phép môi trường chặt chẽ hơn; ngân sách chi cho sự nghiệp BVMT được đảm bảo; xử lý nghiêm nhiều vụ việc vi phạm pháp luật môi trường thông qua lực lượng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh.
- Hạn chế, bất cập: Ô nhiễm nước mặt và không khí cục bộ còn nghiêm trọng; hạ tầng kỹ thuật BVMT tại các CCN và làng nghề chưa đồng bộ; năng lực quan trắc, kiểm soát nguồn thải chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp; sự tham gia giám sát của cộng đồng dân cư và cơ chế giải trình của cơ quan quản lý chưa thực sự phát huy hiệu quả theo chuẩn mực quản trị tốt.
Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường từ thực tiễn tỉnh Hải Dương
Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả phân tích thực trạng, chương 4 đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường:
- Định hướng: Đổi mới tư duy quản lý theo hướng chủ động phòng ngừa; gắn kết chặt chẽ mục tiêu tăng trưởng GRDP với các chỉ số môi trường (PEPI, PAPI); tích hợp BVMT vào quy hoạch phát triển tỉnh; chuyển dần từ cơ chế mệnh lệnh - kiểm soát sang cơ chế kết hợp công cụ kinh tế và quản trị có sự tham gia của xã hội.
- Hệ thống giải pháp:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách và văn bản QPPL tại địa phương: Rà soát, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường phù hợp với sức chịu tải sinh thái của Hải Dương; hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các sở, ban ngành và UBND cấp huyện.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực thực thi: Tăng cường biên chế, đào tạo chuyên môn cho cán bộ quản lý môi trường cấp huyện, xã; đầu tư trang thiết bị, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc tự động liên tục.
- Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế và đa dạng hóa nguồn lực: Vận dụng linh hoạt thuế, phí BVMT; huy động vốn xã hội hóa đầu tư hạ tầng xử lý chất thải rắn, nước thải KCN/CCN theo hình thức đối tác công tư (PPP); sử dụng hiệu quả Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Sở TN&MT với lực lượng Công an tỉnh; ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận phản ánh vi phạm; xử lý nghiêm minh các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.
- Vận dụng lý thuyết quản trị tốt, phát huy vai trò cộng đồng và doanh nghiệp: Công khai, minh bạch thông tin môi trường; xây dựng cơ chế đối thoại, giải trình định kỳ của chính quyền với người dân tại các điểm nóng; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ sản xuất sạch hơn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án tiếp cận nghiên cứu đa ngành, kết hợp chặt chẽ giữa Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Kinh tế với khoa học Quản lý công và Chính sách công.
- Bổ sung, phát triển và làm sâu sắc thêm nội hàm lý luận về QLNN đối với môi trường: làm rõ các khái niệm, chủ thể, khách thể, đối tượng, mục tiêu và 5 đặc điểm đặc thù của QLNN về môi trường.
- Vận dụng sáng tạo lý thuyết quản trị tốt và lý thuyết phát triển bền vững vào quản lý môi trường ở cấp địa phương, chỉ rõ sự chuyển dịch cần thiết từ mô hình quản lý đơn phương của Nhà nước sang mô hình quản trị phối hợp đa chủ thể (Nhà nước - Doanh nghiệp - Cộng đồng dân cư).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Làm sáng tỏ một cách hệ thống, khách quan thực trạng QLNN về môi trường trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2018–2022 – giai đoạn chuyển giao thi hành Luật BVMT năm 2020.
- Chỉ ra cụ thể những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng CCN, xung đột lợi ích giữa thu hút đầu tư công nghiệp với bảo vệ sinh thái tại các điểm nóng môi trường của tỉnh (Kinh Môn, Cẩm Giàng, Bình Giang).
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính khả thi cao, xuất phát từ thực tiễn địa phương, đóng vai trò tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách, hoàn thiện pháp luật môi trường và chính quyền tỉnh Hải Dương trong công tác quản lý điều hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trọng tâm trong giai đoạn 2018–2022 trên địa bàn một tỉnh (Hải Dương); góc độ tiếp cận chủ yếu dựa trên khoa học pháp lý hành chính (nghĩa hẹp của QLNN), chưa mở rộng khảo sát sâu các công cụ thị trường mới xuất hiện hoặc các khía cạnh quản trị quốc tế xuyên biên giới.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Luật BVMT năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2023) tại các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong các giai đoạn tiếp theo.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế liên kết vùng trong kiểm soát ô nhiễm lưu vực sông liên tỉnh (như hệ thống sông Bắc Hưng Hải, sông Thái Bình).
- Nghiên cứu cơ chế thử nghiệm và áp dụng thị trường hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon (REDD+) ở cấp độ địa phương và doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Luật Kinh tế, Quản lý tài nguyên môi trường, Quản lý công khi nghiên cứu về thể chế pháp lý và quản trị sinh thái.
- Đối với các cơ quan xây dựng pháp luật: Cung cấp cứ liệu thực tiễn và các kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về BVMT, cơ chế phân công, phân cấp quản lý môi trường giữa trung ương và địa phương.
- Đối với chính quyền và cơ quan quản lý tỉnh Hải Dương: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng môi trường, số liệu vi phạm và các giải pháp thực tế để nâng cao chỉ số PEPI, chỉ số PAPI, giải quyết các điểm nóng ô nhiễm tại các KCN, CCN và làng nghề trên địa bàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật về BVMT. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào địa bàn tỉnh Hải Dương, với khoảng thời gian trọng tâm từ năm 2018 đến năm 2022, tiếp cận dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính theo nghĩa hẹp (hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước).
2. Ba lý thuyết nền tảng được luận án vận dụng trong nghiên cứu là gì?
Luận án vận dụng 3 lý thuyết: (1) Lý thuyết phát triển bền vững (đáp ứng nhu cầu hiện tại không tổn hại tương lai, cân bằng kinh tế - xã hội - môi trường); (2) Lý thuyết quyền con người được sống trong môi trường trong lành (từ tiếp cận tự nhiên/pháp lý đến Điều 43, Điều 63 Hiến pháp 2013); (3) Lý thuyết quản trị tốt (với 8 đặc trưng: tham gia, pháp quyền, minh bạch, kịp thời, đồng thuận, bình đẳng, hiệu quả, trách nhiệm giải trình).
3. Thực trạng phát triển kinh tế và áp lực môi trường tại Hải Dương giai đoạn 2016-2020 có điểm gì nổi bật?
Giai đoạn 2016–2020, GRDP Hải Dương tăng bình quân 8,1%/năm, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đạt 90,3% (năm 2020). Toàn tỉnh có 14 KCN, 58 CCN, 65 làng nghề và khoảng 18.595 doanh nghiệp. Tốc độ công nghiệp hóa cao cùng với các ngành tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm lớn (luyện kim, nhiệt điện than, hóa chất) đã làm phát sinh các điểm nóng môi trường tại Kinh Môn, Cẩm Giàng, Bình Giang.
4. Quản lý nhà nước về môi trường có những đặc điểm cơ bản nào theo phân tích của tác giả?
Luận án nêu rõ 5 đặc điểm: (1) Có sự giao thoa giữa quản lý giới vô sinh, sinh vật và xã hội; (2) Khó khăn khi cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; (3) Mang tính chất liên kết vùng, khu vực và quốc tế; (4) Mang tính đi trước, dự báo và phòng ngừa; (5) Có mối liên hệ mật thiết với các chủ thể tham gia quản lý môi trường trong xã hội.
5. Luận án sử dụng những bảng số liệu thống kê thực tế nào để phân tích thực trạng tại Hải Dương?
Tác giả sử dụng 5 bảng thống kê trọng tâm: Bảng 3.1 (Tình hình sử dụng phân bón, thuốc BVTV giai đoạn 2020-2022); Bảng 3.2 (Kết quả quan trắc môi trường nước năm 2022); Bảng 3.3 (Ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp BVMT giai đoạn 2018-2022); Bảng 3.4 (Kết quả xử lý vi phạm pháp luật BVMT của Công an tỉnh Hải Dương giai đoạn 2018-2022); Bảng 3.5 (Thực trạng hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Minh Thảo đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với môi trường từ thực tiễn tỉnh Hải Dương. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với khung phân tích phát triển bền vững và quản trị tốt, công trình đã làm sáng tỏ bức tranh thực trạng quản lý giai đoạn 2018–2022 thông qua hệ thống dữ liệu thực tế. Các giải pháp do luận án đề xuất mang tính đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp luật địa phương, kiện toàn bộ máy, áp dụng công cụ kinh tế đến tăng cường giám sát của cộng đồng, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho hoạt động quản lý môi trường cấp tỉnh trong bối cảnh hiện nay.