MỞ ĐẦU Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đem lại nhiều thành quả về kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân, nhưng một thực tế là các nguồn tài nguyên vốn bị tàn phá do chiến tranh và hậu quả khai thác không hợp lý trong thời gian dài trước đây nên đã bị suy giảm nghiêm trọng. Chúng ta đang đối mặt với những thách thức về suy thoái tài nguyên và môi trường. Vì vậy hòa nhập vấn đề môi trường vào quy hoạch phát triển là một việc làm cần thiết nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Lập chiến lược bảo vệ môi trường chú trọng tại nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam vì đáp ứng được yêu cầu đó.
Xây dựng chiến lược môi trường nhằm lồng ghép những vấn đề môi trường vào quy hoạch phát triển, góp phần điều chỉnh, giảm nhẹ xung đột giữa môi trường và phát triển. Vì mục tiêu phát triển bền vững, ngày nay bất kỳ một quốc gia, Tỉnh, vùng lãnh thổ nào cũng cần phải có một chiến lược quy hoạch môi trường hợp lý phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế ở đó. Cùng với sự phát triển của đất nước, tỉnh Quảng Ngãi cũng có những bước tiến vượt bậc cũng như thay đổi to lớn về mọi mặt trong suốt quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Kinh tế cũng như đời sống văn hóa xã hội của người dân được cải thiện.
Tuy nhiên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ nên đã ảnh hưởng đến chất lượng môi trường. Nhiều vấn đề môi trường đang xảy ra nhưng vẫn chưa thể khắc phục được trong một thời gian ngắn do chưa có sự chuẩn bị về cơ sở hạ tầng tốt. 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định được các vấn đề môi trường bức xúc, tìm ra được nguyên nhân gây ô nhiễm và suy thoái môi trường trên cơ sở điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng và dự báo diễn biến môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Qua đó xây dựng một 1 chiến lược bảo vệ môi trường phát triển bền vững trên phạm vi toàn tỉnh Quảng Ngãi từ nay cho đến năm 2020.
3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng của đề tài nghiên cứu này là các vấn đề môi trường bức xúc đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế, các nguyên nhân gây ô nhiễm và suy thoái môi trường. Phạm vi của đề tài nghiên cứu là toàn tỉnh Quảng Ngãi và các khu vực lân cận. 4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4.1 Ý nghĩa khoa học Chiến lược BVMT Quảng Ngãi gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là một công cụ giúp các cơ quan quản lý về môi trường của tỉnh có những định hướng và nắm bắt được những chương trình quản lý môi trường trong quá trình phát triển từ nay đến năm 2020.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc đề ra các giải pháp cụ thể và thiết thực giải quyết mâu thuẫn trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là việc giải quyết các vấn đề môi trường cấp bách liên quan tới khai thác tài nguyên hợp lý, nâng cao chất lượng cuộc sống.
5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Từ những năm cuối thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, việc xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường (CLBVMT) đã được một số nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Nga… quan tâm. Tiếp theo đó là các nước đang phát triển và các Tổ chức Quốc tế (UNDP, WB, ADB, UNEP) cũng nhận thức được tầm quan trọng của chiến lược BVMT. Hầu hết những nước đã thực hiện CLBVMT đều đi đến khẳng định là CLMT đã giúp đất nước họ “lấy lại thăng bằng” giữa tốc độ phát triển và bảo vệ tài nguyên môi trường (EPA, 1995; Brunden Wumvel Schutz- CHLB Đức, 1978). Bên cạnh đó, CLBVMT còn cung cấp “một cơ sở lý luận, một chỗ dựa khoa học” cho các nhà 2 lãnh đạo hoạch định, quản lý sản xuất của mình đúng hướng, đúng quy luật tự nhiên và xã hội (Ecobalance, Vol I, trang 120).
Khi nói về hiệu quả của CLBVMT, một số tác giả (W. Hill, 1989) đã khẳng định: “Hiệu quả CLBVMT không thể tính hay khó tính ra bằng tiền nhưng nó là vô giá” bởi vì “CLBVMT sẽ dẫn dắt chúng ta không phá huỷ ngôi nhà chung mà chúng ta vẫn sống tốt”. N, đã viết trong “Điểm qua vai trò CLBVMT và Hiệu quả” (Global Envi. Newletter, 2004) rằng “Hiệu quả của CLBVMT không dễ gì nhận ra hoặc đánh giá bằng tiền, nhưng thực tế cái lợi của nó thì vô cùng lớn, nó định hướng cho xã hội sử dụng tài nguyên đúng mức, tiết kiệm mà không làm ô nhiễm môi trường.
Nó cho các nhà lãnh đạo tầm nhìn chiến lược tài nguyên môi trường”. Một vài tác giả quy hiệu quả của CLBVMT ra phần trăm tăng trưởng: “Có thể giúp sự tăng trưởng của các nước có CLBVMT đúng tăng 10 - 15% GDP sau những giai đoạn thực thi CLMT” ( Hashira. M, Japan Environmental Policies, 2000 - 2015).2 Tình hình nghiên cứu trong nước Nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng công tác bảo vệ môi trường, trong những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã đặc biệt quan tâm và ban hành một số văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường: Chiến lược bảo tồn Quốc gia (1986), kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000 (1991), Luật Bảo vệ Môi trường (1994), Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường giai đoạn 1996-2000 (1995), Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1995), Luật Tài nguyên nước (1998). Xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường là một trong những phương pháp tốt trong việc bảo vệ môi trường, vì thế nó cũng rất được chính phủ Việt Nam quan tâm.
Đến nay, đã có nhiều đề tài, dự án khác nhau được thực hiện liên quan đến vấn đề quy hoạch môi trường. Một số dự án/ đề tài tiêu biểu có thể kể đến là: Tại TP. Hồ Chí Minh “Định hướng Chiến lược bảo vệ môi trường Tp. HCM đến 2020” đã được Sở KHCN và MT xây dựng từ cuối năm 1999.
Trên cơ sở tập trung phân tích hiện trạng môi trường thành phố, chiến lược đã đưa ra 8 chương trình hành động tập trung vào các vấn đề ưu tiên như: Nâng cao nhận thức cộng đồng, Giảm thiểu ô nhiễm không khí, Bảo vệ nguồn nước, Quản lý chất thải công 3 nghiệp, Quản lý rác đô thị, Thoát nước đô thị, Phát triển mảng xanh đô thị, Hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường. Tiếp theo bản định hướng chiến lược này, được sự tài trợ của Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thông qua Dự án VIE 96/023, Sở KHCN và MT TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng “Chiến lược môi trường TP. Hồ Chí Minh” và đã được UBND TP.
Hồ Chí Minh phê duyệt. Hiện nay, tại TP. Hồ Chí Minh đã hình thành Ban chỉ đạo chiến lược và Văn phòng điều phối thực hiện chiến lược BVMT tại Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Hồ Chí Minh. Đà Nẵng, Sở KHCN&MT đã tiến hành xây dựng chiến lược BVMT từ năm 2001 nhằm đưa ra định hướng cơ bản cho công tác bảo vệ môi trường đến năm 2010.
Các vấn đề môi trường được ưu tiên giải quyết là giáo dục môi trường, quản lý môi trường, sự cố môi trường (lũ lụt, bão, ngộ độc thực phẩm…), ô nhiễm công nghiệp, môi trường ven biển, môi trường du lịch,… Sở KHCN và MT tỉnh Vĩnh Long đã xây dựng chiến lược BVMT tỉnh giai đọan 2000-2010, trong đó tập trung vào các vấn đề môi trường cấp bách như ô nhiễm nguồn nước sông, rạch, ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp, cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, ô nhiễm do chăn nuôi, do sản xuất tiểu thủ công nghiệp (gạch ngói, nước mắm, chao …). Sở KHCN và MT tỉnh Bình Dương đã hoàn thành xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường của tỉnh từ năm 2000 đến năm 2010 với 18 chương trình hành động cụ thể. Trong đó, tập trung vào các vấn đề ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễm tại các khu dân cư đô thị, bảo vệ môi trường do khai thác cát ven sông,… Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh Bình Phước đã hòan thành xây dựng chiến lược BVMT cho tỉnh giai đoạn 2003 – 2010 và định hướng đến năm 2020. Các nội dung chính của chiến lược là xói mòn đất, bảo vệ môi trường cho các nhà máy sản xuất, chế biến cao su, chế biến hạt điều, bảo vệ môi trường nông thôn cho dân tộc ít người, thóai hóa đất do trồng khoai mì,… 6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6.1 Phương pháp luận Xây dựng chiến lược BVMT là một khâu trong hệ thống kế họach hóa BVMT tại Việt Nam.
Chiến lược BVMT phải được xây dựng trên cơ sở lồng ghép các vấn 4 đề môi trường vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Chiến lược BVMT là cơ sở để xây dựng quy họach BVMT, kế họach hành động BVMT và các dự án ưu tiên nhằm BVMT. Chiến lược BVMT phải xây dựng trên cơ sở xác định rõ ràng các vấn đề môi trường cấp bách đang và sẽ xẩy ra trong giai đọan thực hiện chiến lược (đến năm 2020). Trong chiến lược BVMT phải xác định rõ các mục tiêu dự kiến sẽ đạt được sau khi thực hiện chiến lược.
Để đạt được các mục tiêu đề ra, cần đề xuất rất nhiều chương trình, dự án khác nhau. Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn, nên các chương trình, dự án không thể thực hiện đồng thời mà phải sắp xếp ưu tiên theo một số các tiêu chí đề ra. Trong chiến lược BVMT cũng cần phân công trách nhiệm thực hiện, đề xuất cơ chế phối hợp, giám sát và báo cáo nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong chiến lược.2 Phương pháp cụ thể 1). Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu, dữ liệu đã có từ các Sở, Ban, ngành của tỉnh; Kế thừa các số liệu từ các đề tài nghiên cứu đã có trước đây; Phân tích, tổng hợp các dữ liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh theo từng chuyên đề riêng biệt.