lời mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng: - Chƣơng I: Cơ sở khoa học về hệ thống thông tin quản lý nhà nƣớc trong ứng phó với biến đổi khí hậu; - Chƣơng II: Thực trạng hệ thống thông tin quản lý nhà nƣớc trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam; - Chƣơng III: Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý nhà nƣớc trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam. 10 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH 1. Các khái niệm cơ bản liên quan Quản lý nhà nước Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [12]. QLNN xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nƣớc, đó là quản lý toàn xã hội.
So với quản lý của các tổ chức khác, quản lý nhà nƣớc có những điểm khác biệt, mang tính đặc trƣng sau: (1) Chủ thể QLNN là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc trao quyền, bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tƣ pháp. (2) Đối tƣợng QLNN là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia. (3) QLNN là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, tài nguyên, môi trƣờng,. (4) QLNN mang tính quyền lực nhà nƣớc, sử dụng công cụ pháp luật nhà nƣớc, chính sách để quản lý xã hội.
(5) Mục tiêu của QLNN là nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Hệ thống thông tin quản lý nhà nước Theo giáo trình Thông tin trong quản lý hành chính nhà nƣớc - Học viện Hành chính Quốc gia [13], “Thông tin trong quản lý là những gì mà nhà quản lý cần cho việc ra quyết định”. Nhƣ vậy, thông tin trong quản lý chính là 11 Luan van tập hợp những thông tin đã đƣợc thu thập, xử lý nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động quản lý của nhà quản lý. “Hệ thống thông tin là hệ thống dùng các nguồn tài nguyên bao gồm: con ngƣời (ngƣời sử dụng và các chuyên gia về công nghệ thông tin), phần cứng (máy tính, các phƣơng tiện lƣu trữ và truyền dữ liệu), phần mềm (các chƣơng tình, thủ tục), để thực hiện các hoạt động nhập vào, xử lý, đƣa ra, lƣu trữ và khiểm soát nhằm chuyển các tài nguyên dữ liệu thành các sản phẩm thông tin”.
Nhƣ vậy, hệ thống thông tin quản lý sẽ bao gồm các cơ sở dữ liệu, các dòng thông tin nhằm tối ƣu các chức năng đƣợc quy định để thực hiện mục tiêu chung. Hệ thống thông tin quản lý có các đặc trƣng chủ yếu [13]: - HTTT hỗ trợ chức năng xử lý dữ liệu trong các hoạt động nghiệp vụ từ giao dịch đến phân tích, lƣu trữ và ra quyết định; - HTTT sử dụng các cơ sở dữ liệu thống nhất, có nhiều chức năng xửlý dữ liệu; - HTTT cung cấp thông tin cho các nhà quản lý, tạo điều kiện cho họ thâm nhập vào các cơ sở dữ liệu; - HTTT đủ mềm dẻo để có thể thích ứng đƣợc với những thay đổi ở mức độ nhất định về quy trình xử lý và nhu cầu thông tin; - HTTT đảm bảo toàn vẹn dữ liệu và an toàn cho hệ thống, hạn chế việc xâm nhập của những ngƣời không có thẩm quyền. Biến đổi khí hậụ BĐKH, trƣớc hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nƣớc biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Thiên 12 Luan van tai và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nƣớc biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới.
BĐKH là vấn đề đang đƣợc toàn nhân loại quan tâm. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trƣờng toàn cầu. Trong những năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm nhƣ bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con ngƣời và vật chất. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nói trên với BĐKH.
Theo báo cáo lần thứ tƣ của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu [29], “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn”. Nói cách khác, có thể hiểu BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu trong thời gian đủ dài. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng định nghĩa BĐKH là “sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn”. [8] Tại khoản 2, Điều 1 của Công ƣớc khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu: “BĐKH nghĩa là biến đổi của khí hậu đƣợc quy cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này đƣợc cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát đƣợc trong những thời kỳ có thể so sánh đƣợc”.
Theo Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI, “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động con ngƣời dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, đƣợc quan sát trên một chu kỳ thời gian dài. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu toàn cầu là do sự gia tăng các hoạt động của con ngƣời làm phát thải quá mức khí nhà kính vào khí quyển, khai thác quá mức 13 Luan van các bể hấp thu và bể chứa khí nhà kính nhƣ sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác”[1]. Nhƣ vậy, BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu, “khung” thời tiết từ bình thƣờng vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới. Ứng phó biến đổi khí hậu Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Ứng phó là chủ động đối phó nhanh nhạy, kịp thời với những tình huống mới, bất ngờ.
Do vậy, có thể hiểu Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu Hệ thống thông tin quản lý nhà nước trong ứng phó BĐKH Từ những khái niệm có liên quan trên. Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, Tác giả định nghĩa “Hệ thống thông tin quản lý nhà nước trong ứng phó biến đổi khí hậu là một hệ thống hợp nhất các cơ sở dữ liệu và các dòng thông tin về biến đổi khí hậu làm tối ưu cho việc thu thập, phân tích, lưu trữ, truyền dẫn và trình bày thông tin về biến đổi khí hậu trong một tổ chức nhiều cấp, có nhiều thành phần thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau nhằm đạt mục tiêu giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu của hoạt động quản lý”. Nguyên lý hoạt động, thành phần cơ bản và vai trò của HTTT quản lý nhà nƣớc * Nguyên lý hoạt động của các hệ thống thông tin QLNN đƣợc thể hiện nhƣ sau: [13] - Nhập dữ liệu vào. Các dữ liệu vào đã đƣợc thu thập phải đƣợc biên tập và nhập vào theo một biểu mẫu nhất định.
Khi đó dữ liệu đƣợc ghi trên các vật mang tin đọc đƣợc bằng máy nhƣ đĩa từ, băng từ… 14 Luan van - Xử lý dữ liệu thành thông tin. Dữ liệu đƣợc xử lý bằng các thao tác nhƣ tính toán, so sánh, sắp thứ tự, phân loại, tóm tắt, phân tích để biến thành các thông tin dành cho ngƣời sử dụng. - Đƣa thông tin ra. Mục đích của các hệ thống thông tin là cung cấp những sản phẩm thông tin phù hợp cho ngƣời sử dụng và việc ra quyết định quản lý.
Các sản phẩm đó có thể là các Quyết định, công văn, thông báo, biểu mẫu, báo cáo, danh sách, đồ thị, hình ảnh, … hiển thị trên màn hình hoặc in ra trên giấy. - Lƣu trữ các nguồn dữ liệu. Lƣu trữ là một hoạt động cơ bản của hệ thống thông tin QLNN, trong đó các dữ liệu và thông tin đƣợc giữ lại theo cách tổ chức nào đó để sử dụng sau này. Các dữ liệu thƣờng đƣợc tổ chức và lƣu trữ dƣới dạng các trƣờng, các biểu ghi, các tệp và các cơ sở dữ liệu.
- Kiểm tra hoạt động của hệ thống. Hệ thống thông tin phải tạo ra các thông tin phản hồi về các quá trình vào, ra, xử lý và lƣu trữ dữ liệu để có thể đánh giá và điều chỉnh hiệu quả hoạt động của hệ thống. Ngày nay, máy tính đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng các hệ thống thông tin, cho nên khi nói đến hệ thống thông tin luôn đƣợc hiểu là nói đến hệ thống thông tin có sử dụng máy tính. * Thành phần cơ bản của hệ thống thông tin QLNN [13] Hệ thống thông tin có năm tài nguyên cơ bản là: - Con ngƣời: bao gồm cán bộ, công chức, ngƣời sử dụng và các chuyên gia về hệ thống thông tin.
Ngƣời sử dụng hay khách hàng là ngƣời trực tiếp sử dụng hệ thống thông tin và các sản phẩm thông tin mà hệ thống tạo ra. Các cán bộ, công chức và chuyên gia về hệ thống thông tin là ngƣời xây dựng và vận hành hệ thống thông tin. Đó là các nhà phân tích hệ thống, các nhà lập trình, các kỹ sƣ tin học.