Chương 1 KHÁI QUÁT VE BẢO VỆ MOI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Quan niệm về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp 1. Quan niệm về Khu công nghiệp Hiện nay, có nhiều định nghĩa về KCN. Tuy nhiên, hiểu một cách chung nhất, KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội đồng bộ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động, được thành lập theo quy định của Chính phủ".
Trong KCN có thê có DN chế xuất và DN công nghệ cao. Từ nội hàm của khái niệm trên, có thê thấy rõ, một khu được gọi là KCN, bao hàm các nội dung sau đây - KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp, có nghĩa là, trong KCN chỉ sản xuất những sản phẩm hay những mặt hàng công nghiệp nhằm tạo ra gia tri và gia tri gia tăng trong công nghiệp, tức là tạo ra GDP. - Trong KCN không thể thiếu vắng các hoạt động dịch vụ, song những dịch vụ đó cũng chỉ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. - KCN được xác định ranh giới địa lý.
Vì thế, khi nói tới KCN là ta nói tới “hàng rào” của KCN; bên trong KCN tức là nói tới biên giới giữa bên trong và bên ngoài KCN. Vậy, bên trong “hàng rào” KCN sản xuất các sản phẩm công nghiệp”. - Một khu được gọi là KCN được phát triển về mặt kết cấu hạ tang, bao ' Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thong tur 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 quy định về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, Hà Nội, tr. ? Ngô Sỹ Bich (2013), Các KCN là nên tảng quan trọng dé thực hiện mục tiêu CNH - HĐH, Website: baoyenbai.
gồm: 1) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật: hệ thống nhà xưởng: hệ thống cung ứng và tiêu thoát nước, hệ thống xử lý rác thải hệ thống nhà xưởng; hệ thống đường nội bộ KCN, hệ thống chiếu sáng, cây xanh. đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. 2) Hệ thống hạ tầng xã hội, trong đó đảm bảo cho sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, công nhân viên của KCN như: khu ký túc xá, nhà ở cho công nhân, trung tâm y tế, khu vui chơi giải tri. Điều đó, khẳng định một KCN hoàn chỉnh khi và chỉ khi có hệ thống kết cau hạ tang kỹ thuật và hạ tang xã hội.
Về mặt này, ở nhiều quốc gia đang phát triển thường phải “đối mặt” với sự không đầy đủ, không đồng bộ thậm chí là thiếu vắng về hạ tầng xã hội do chủ đầu tư chạy theo mục đích lợi nhuận mà ít đầu tư, thậm chí là không đầu tư phát triển hạ tầng xã hội”. - KCN được thành lập theo quy định, quyết định của Chính phủ, điều đó hàm nghĩa rằng, phát triển KCN được đặt trong quy hoạch, với mối quan hệ tổng thể, hữu cơ trong phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm trong KCN; đảm bảo sản xuất ra giá trị, giá trị gia tăng trong công nghiệp. - Trong KCN có thé hình thành hay phát triển các DN chế xuất và DN công nghệ cao và ngược lại. Phát triển các DN chế xuất và DN công nghệ cao cũng nhằm mục đích phát triển KCN, không ngừng làm gia tăng giá trị và giá tri trăng thêm của ngành công nghiệp.
Quan niệm về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp Môi trường có vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất, cũng như là môi trường đời sống con người. Đồng thời, môi trường cũng là nơi phát thải các chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại, ảnh hưởng xấu đến môi sinh, môi trường. Vì vậy, BVMT là tất yêu; theo Luật BVMT năm 2014 thì “Hoạt động BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chê tác động xâu đôi với môi trường, ứng phó sự cô môi trường; khắc 3 Ngô Sỹ Bích (2013), Các KCN là nên tang quan trọng dé thực hiện mục tiêu CNH - HĐH, Website: baoyenbai. 10 phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp ly và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học””.
Từ khái niệm về hoạt động BVMT cũng như khái niệm của KCN, có thé hiểu khái niệm về BVMT tại KCN như sau: BVMT tại KCN là hoạt động giữ cho môi trường trong KCN và khu vực lan cận được trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, ứng phó sự cô môi trường; khắc phục, kiểm soát tình trạng ô nhiễm và cải thiện môi trường trong các KCN và môi trường xung quanh, dam bảo cho KCN phat triển bên vững'. Nội hàm của khái niệm BVMT tại KCN phản ảnh nội dung cốt lõi như - BVMT tại KCN là hoạt động giữ cho môi trường trong KCN và các khu vực lân cận được trong lành, sạch đẹp. Môi trường KCN được trong lành hàm nghĩa rằng không khí ở KCN được đảm bảo; không bị tác động tiêu cực từ những phát thải do KCN tao ra trong quá trình sản xuất - kinh doanh công nghiệp. Đồng thời với không khí KCN được bảo vệ phải luôn tạo ra cảnh quan sạch, đẹp và thân thiện với cuộc song con người.
Hoạt động BVMT tai KCN trước hết phải do những con người, mà trực tiếp là chủ doanh nghiệp, cán bộ công nhân viên - những người trực tiếp sản xuất - kinh doanh tại KCN thực hiện theo mục đích, yêu cầu, nguyên tắc phát triển KCN, tuân thủ theo luật định. - BVMT tại KCN luôn gắn bó mật thiết, hữu cơ với phòng ngừa, ứng phó với sự cố môi trường trong các KCN. Bởi vì, phát triển KCN, cụ thê là phát triển sản xuất - kinh doanh trong KCN luôn phát thải ra chất thải, nhất là chất thải độc hại. Những chất thải độc hai làm tôn thương môi trường sinh sông của con người.
Phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN tất yếu phat thải ra chất thải. Vậy những sự cô về môi trường có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong các KCN. Vi vậy, BVMT tại các KCN luôn phải xây dựng các phương * Quốc hội (2014), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội, tr. Ÿ Lê Hùng (2013), Báo động tinh trạng 6 nhiễm MT tại các Khu công nghiệp, Website: monre.
lãi án phòng ngừa sự cố môi trường. Khi sự cố môi trường trong KCN nảy sinh sẽ có năng lực ứng phó với sự cô môi trường một cách chủ động, tích cực dé lam giảm nhẹ, thậm chí là bao dam an toàn tuyệt đối cho chính KCN và môi trường xung quanh. - BVMT tại KCN không có nghĩa chỉ chú trọng duy nhất vào “hàng rào” bên trong KCN mà còn cần phải BVMT bên ngoài “hàng rào” KCN. Bởi lẽ, khi môi trường bên trong “hàng rào” KCN bị ô nhiễm, tất yếu không khí lan tỏa, dẫn đến ô nhiễm không khí bên ngoài hàng rào KCN; nước xả thải không được xử lý hiệu quả hoặc không xử lý sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước của khu, của cả vùng, nơi nước thải đi qua.
Do đó, BVMT tại KCN cần phải xem xét trong trạng thái mở và động. BVMT tại KCN tức là phải BVMT cho toàn khu vực, những vùng có tính liên kết. - BVMT tại KCN, hướng đích cuối cùng là đảm bảo cho KCN phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường. Có BVMT tốt mới thúc đây sản xuất - kinh doanh trong KCN phát triển, mới tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm, tức là tạo ra GDP trong ngành công nghiệp; tạo ra thu nhập, nâng cao mức song của cán bộ, công nhân viên và công nhân trong KCN.
Đồng thời, BVMT sống của chính họ. Giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp được gia tăng: đời sống cán bộ, công nhân viên và công nhân được nâng cao; môi trường sông được bảo đảm sẽ thúc đây KCN phát triển bền vững. Như vậy, phát triển các KCN cũng chính là một bộ phận của sự phát triển. Chính sự phát triển các KCN góp phan phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Sự phát triển của các KCN đặt trong một môi trường cu thể. Nếu môi trường thuận lợi thì việc phát triển công nghiệp diễn ra dé dang và mang lại hiệu quả cao. Chính sự phát triển của các KCN cũng chính là nhân tố tạo ra những biến đổi của các thành tố môi trường”. 5 Lê Hùng (2013), Báo động tình trạng ô nhiễm MT tại các Khu công nghiệp, Website: monre.
12 Tác động của phát triển KCN đến môi trường thê hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thé gây ra 6 nhiễm môi trường. Mặt khác, môi trường đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển KCN hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động sản xuất. Quan niệm về pháp luật bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp Từ khái niệm về bảo vệ môi trường tại KCN ở phan trên, pháp luật bảo vệ môi trường tại KCN có thê được định nghĩa như sau “Pháp luật bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gom các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyên ban hành nhằm diéu chỉnh những mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động bảo vệ môi trường Khu công nghiệp nhằm phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu tới môi trường khu công nghiệp ”.
Như vậy - Pháp luật bảo vệ môi trường tại KCN là một bộ phận của pháp luật môi trường. - Pháp luật bảo vệ môi trường tại KCN điều chỉnh những mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ môi trường KCN. - Mục đích của pháp luật bảo vệ môi trường KCN nhằm phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường KCN; khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường KCN’. * Đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp - Pháp luật BVMT tại các KCN trước hết được xác định là nhiệm vụ 7 Mai Thanh (2015), Ô nhiễm môi trương tại khu công nghiệp “Nút thắt” từ luật, Website: tapchitaichinh.
13 của ban than KCN, các DN, cán bộ công nhân viên, công nhân - những người chủ của KCN.